Hiển thị các bài đăng có nhãn ChristopherAlexander. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ChristopherAlexander. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

My fish pond

I've had a love for fish and aquarium for a long time. Seeing them in an environment that resembles natural habitat is always something rewarding to me. To me, it's not as much about the fishes, how they look, what colors they have, as about the relationship of everything else about it: how much spaces the fishes have for themselves, how certain plant or rock well placed could help the fishes more comfortable, this i felt certain, immensely.

When i was a kid, i used to have aquarium jars, big and small, glass and earthen. My favorite was a big jar, with some fanwort plants and a few small insignificant fishes inside. Back in those old days of the 80s, Vietnam was so poor that infrastruture was neglected. Whenever it rained, rainwater made a light flood on the streets and hurried in streams on both sides of the road toward the sewage. The pavement in front of my house got puddle every time. But it was great. When it was big rain, the flood water would be clear, kids would come out in groups to play in the street. I sometimes would took my catfish jar out and poured into the puddle so that the fish could enjoy the fresh rainwater and the experience of real rain. It was such joy to me, not the fun of playing a toy, but the joy of believing I was bringing the fish its real joy, real playtime. I never thought much of how much stress the fish had when i tried to catch it back. Or rather i thought the fish would agree with me that it was worthwhile. And of course, i never thought if and how i knew what the fish felt. Once in a while, I'd loose a fish when it made it out of the puddle and into the stream of water, to its true freedom. I was sad but somehow still felt it worthwhile. I'd risk it again next time.

For a few reasons, i stopped keeping aquarium and having any fishes after 14. The love is still there. I rarely pass by any open water without wondering and hoping for a glimpse of fish inside. But, i tell myself, if i were to have fishes again, I would have them in a pond instead of the glass tank. I want them to have more freedom and privacy, things that a glass tank can hardly provide.

Luckily now i'll have a shot of making a pond.

One of the most inspiring and memorable passages from The Timeless Way of Building was when Christopher Alexander described a fish pond and its profound impact on him. It was almost a spiritual experience to him, just by being there with something so ordinary and care-free yet having a quality that was true and that reached deep and connected deeply. It’s almost like wabi-sabi but Chris wanted to convey a quality which was beyond aesthetics. He didn’t have a name for it then, sometimes calling it a quality without a name, sometimes ‘wholeness’. The word wholeness which appeared only vaguely, reluctantly in his mind back then would decades later, in the Nature of Order books, emerged as the name of that quality he’s been trying to reach.

I once saw a simple fish pond in a Japanese village which was perhaps eternal. A farmer made it for his farm. The pond was a simple rectangle, about 6 feet wide, and 8 feet long; opening off a little irrigation stream. At one end, a bush of flowers hung over the water. At the other end, under the water, was a circle of wood, its top perhaps 12 inches below the surface of the water. In the pond there were eight great ancient carp, each maybe 18 inches long, orange, gold, purple, and black: the oldest one had been there 80 years. The eight fish swam, slowly, slowly, in circles--often within the wooden circle. The whole world was in that pond. Every day the farmer sat by it for a few minutes. I was there only one day and I sat by it all afternoon. Even now, I cannot think of it without tears. Those ancient fish had been swimming, slowly, in that pond for 80 years. It was so true to the nature of the fish, and flowers, and the water, and the farmers, that it had sustained itself for all that time, endlessly repeating, always different. There is no degree of wholeness or reality which can be reached beyond that simple pond. 

I hope I can update how my pond goes soon. I've designed it with some Christopher Alexander's pattern in mind. It_ together with the house_ is in construction now.

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Sun path tool- Đường đi biểu kiến của mặt trời


Ai cũng biết, mặt trời mọc lên từ đằng Đông và lặn ở đằng Tây. Tuy nhiên đường đi của mặt trời không bao giờ cố định theo một cung tròn trên trời mà thay đổi theo ngày trong năm. Thời gian trời sáng cũng luôn thay đổi_ dài nhất vào ngày hạ chí và ngắn nhất vào ngày đông chí.

Hiểu biết về đường đi và nguồn năng lượng ánh sáng từ mặt trời có nhiều ý nghĩa quan trọng.

Trong permaculture (tạm dịch nền văn minh thuận tự nhiên), nó được xếp vào "sector". Hiểu biết về đường đi của mặt trời giúp cho việc thiết kế công trình-cảnh quan từ thấp đến cao phù hợp, nhằm giữ ấm hoặc làm mát như mong muốn và nhằm tối đa hóa khả năng thu hoạch ánh sáng bằng cây cối hoặc bằng panel năng lượng mặt trời.

Trong tư duy thiết kế của Christopher Alexander, nó được xếp vào pattern_ loại pattern hiện tượng. Hãy tưởng tượng một căn phòng có ánh nắng.  Có thể là vệt nắng ấy, trên sàn hay hắt lên tường, rọi trực tiếp hay xuyên qua kẽ lá, luôn từng giây, từng phút, từng ngày biến đổi, không ngừng chạm đến một mảnh bề mặt khác nhau, một cách chầm chậm, âm thầm. Cùng với năm tháng, pattern của bóng nắng ấy là một phần của cá tính căn phòng, hơn nữa, nó gắn bó hữu cơ vào đời sống tâm hồn của người trong phòng.

Do đó hãy cố gắng tìm trong ký ức của mình một căn phòng có ánh sáng đẹp, ai cũng làm được điều này, rồi trong chừng mực có thể, hãy tái tạo pattern ánh sáng đẹp trong căn phòng mà bạn thiết kế.

Almost everyone has some experience of a room filled with light, sun streaming in, perhaps yellow curtains, white wood, patches of sunlight on the floor, which the cat searches for — soft cushions where the light is, a garden full of flowers to look out onto. 

If you search your own experience, you can certainly remember a place like this — so beautiful it takes your breath away to think of it.  _ Timeless way of building

Để biểu đạt đường đi của mặt trời, người ta dùng Sun path diagram (biểu đồ đường mặt trời). Vd như thế này. Ở trang web này có hướng dẫn cách đọc nó.




Nhưng giờ có nhiều tool hấp dẫn hơn.  Vd ở trang SunCalc.net. Nhập ngày và địa điểm là ta có thể biết góc mặt trời bất cứ giờ nào trong ngày.



Cái tool tôi thích nhất là phiên bản 3D ở trang  AndrewMarsh.com. Thay vì phải gõ ngày vào, người ta chỉ cần kéo rê điểm khảo sát màu đỏ theo chiều ngang để đi suốt năm, và theo chiều thẳng đứng để đi suốt ngày. Bằng cách này có thể dễ dàng đi tới được ngày Đông chí và Hạ chí_ hai ngày biên của đường đi mặt trời_ để khảo sát các góc nắng và lập thiết kế tương ứng.

Bóng nắng chiều lúc 14:03 ngày 23/05/2017 tại địa điểm khảo sát.  Cung màu đỏ gần với cung ngày Hạ chí phía mép trên_ ứng với ngày 21/06/2017







Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Bốn bước để có một căn phòng tốt

Mỗi căn phòng đều trải qua 4 giai đoạn khai mở. Buớc đầu tiên liên quan đến vị trí của nó; bước thứ hai những thứ bên trong nó, những trường trung tâm chính; bước thứ ba liên quan đến cấu trúc thứ cấp (những trường trung tâm nhỏ hơn); bước thứ tư đến tính tĩnh tại của nó. Trong một căn phòng tạo ra từ sự khai mở thật sự, bốn bước này mang đến sự sống cho căn phòng.


1. Vị trí căn phòng: trong giai đoạn đầu của thiết kế, căn phòng được hình thành đầu tiên là từ vị trí: thường là tên, kích cỡ, và vị trí ước chừng. Có người cho rằng cứ đặt căn phòng đâu đó cũng được, rồi sau đó sẽ dùng vật liệu, đồ đạc, thảm rèm,v.v.. để thổi hồn vào cho nó sinh động. Một lối tiếp cận sai lầm. Những trường trung tâm mang lại sự sống cho căn phòng là những thứ nằm ngoài cái phòng. Trên thảy tất cả, căn phòng được phát cho sự sống là tự vị trí của nó ở đâu trong dòng di chuyển của con người, từ ánh sáng tự nhiên trong phòng, từ mối tương quan của nó với cái thế giới bên ngoài cửa sổ_ đó là ba thứ chính yếu nhất. Những thứ này chỉ có thể giải quyết ngay từ khâu sắp xếp đầu tiên chứ ko phải sau này.

Nếu áp dụng quy trình cơ bản, mỗi phòng sẽ được chọn/sắp xếp để chính nó trở thành một trường trung tâm_ điều đó đòi hỏi nó phải chiếm một vị trí nhất định trong dòng di chuyển và có một chất lượng ánh sáng tự nhiên nhất định. Và khi thực hiện quy trình này cho toàn bộ tất cả các căn phòng, nó chi phối mạnh mẽ đến đường biên của khối nhà. Những mối tương quan giữa căn phòng với thế giới bên ngoài bốn bức tường này có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự thành công hay thất bại của căn phòng.


2. Những trường trung tâm của căn phòng: giờ đến bước bố trí và tạo ra những trường trung tâm trong phòng. Đây là bước tinh tế nhất và cũng cực khó, bởi những trường trung tâm định tính căn phòng, mà mình phải tạo ra, thường là vô hình. Loại không gian “căn phòng” có đặc điểm là các trường trung tâm của nó hầu như luôn là những mẩu không gian (rỗng) hơn là những cấu trúc vật thể (đặc). Ở mỗi căn phòng, mình phải tìm ra những vùng thiết yếu, rồi cùng với sự kết hợp giữa dòng di chuyển và ánh sáng, biến vùng đó trở nên một trường trung tâm có sức sống.
Thường trong một căn phòng, những trường trung tâm được xác định bởi hai yếu tố: (1) nó là một vùng đọng bên dòng chảy di chuyển và (2) nó gần ánh sáng. Căn phóng có trường trung tâm tốt khi mà tạo được một chỗ có đồng thời cả hai đặc điểm đó, rồi lại còn được làm mạnh mẽ giàu sức sống hơn bằng quy trình cơ bản để phát triển khai mở với những thành tố bục cửa sổ, trần nhà, đồ gỗ, điểm nhấn, v.v...


3. Cấu trúc thứ cấp: những cấu trúc thứ cấp_ những thứ được xây, những cấu trúc vật chất, hình học, cần phải ăn rơ với nhau, và chúng quyết định sự liền mạch và cảm xúc của căn phòng. Điều này nghe có vẻ hiển nhiên và từng là một phần cốt lõi của bất cứ nền kiến trúc truyền thống nào, vậy mà thật đáng ngạc nhiên cách mà nó hầu như biến mất và quên lãng trong các công trình kiến trúc thế kỷ 20.
Một lần nữa, ở đây quy trinh cơ bản sẽ giúp ích rất nhiều. Bằng cách lặp lại quy trình cơ bản để khai mở từng bước, mỗi bước làm một thứ hướng đến gần hơn cái hình thù và ý tưởng căn phòng đang dần có hình hài trong đầu bạn. Lắng nghe nó, quan tâm đến tính toàn thể nhưng đừng bận tâm nhiều đến mặt bằng / bản vẽ tổng thể.
Chúng ta hãy đi vào cụ thể. Hãy giả sử bạn đã đến chỗ đất định xây, xác định vị trí tốt nhất để đặt một phòng quan trọng. Bạn đã đứng ở chỗ đó, hài lòng là “từ bên trong nhìn ra”, nó đúng là một chỗ đẹp, có tương quan tốt với không gian và địa hình bên ngoài. Dùng quy trình cơ bản, bạn đi bước tiếp theo bằng cách tôn tạo trường trung tâm mà ta đã định trong đầu này. Dĩ nhiên bạn muốn ánh sáng trong phòng đẹp. Do đó ta phải chừa một vùng quang đãng phía ngoài rìa phòng để cho ánh sáng đi vào được đẹp_ ta phải làm cửa sổ đẹp. Tự nhiên, căn phòng giờ đây đã có được những nét rõ rệt hơn hẳn trong thiết kế đang thành hình. Nó “nổi bật”, nó có phần tường bao sáng tỏ và nó bắt đầu góp phần định hình phần căn nhà xung quanh phòng này.


4. Tĩnh tại: yên tĩnh, lắng đọng, an bình, vui tươi, giản dị. Sau những bước khai mở, phân hóa, thêm thắt là bước dẹp bỏ những gì rườm rà và chỉ giữ lại những thứ thật sự mang đến cho ta sự thoải mái và tĩnh lặng.

Về nguyên tắc, căn phòng là sự hiển lộ và hóa thiêng của cuộc đời. Nó là cuộc đời của ta hiển bày ra. Bản thân căn phòng, giống như cái nôi hoặc mớ tích góp của một đời sống, về bản chất chính là nơi của thiên vạn hỷ lạc sầu bi, là chỗ chứa đựng cuộc đời bạn và phần đời của con bạn; là phần xác thịt, mang tính trật tự vật lý, của cái mà tâm hồn bạn từng là và đang là.

Có lẽ đó mới là mục đích thật sự của căn phòng. Nó cần phải thoải mái, nhưng là thoải mái thật sự, thoải mái ở tận tầng linh hồn bên trong. Một căn phòng tốt phải tuyệt đối dễ chịu, cả trong tâm hồn lẫn ở sự êm ái của nệm êm, ánh sáng dịu, tiếng chim ca, nước chảy, một nhành dây leo xanh uốn quanh nở trộm một hai bông hoa, vẳng tiếng trẻ thơ nô đùa và người thân yêu cười nói…. Quá nhiều người đã đánh mất đi sự thính nhạy đối với cái thoải mái dễ chịu bình dị này.

Làm sao để tạo được sự tĩnh tại? Nói chung nó đơn giản thôi nhưng đòi hỏi phải tập trung và lắng nghe chính mình. Hãy đứng ở trong căn phòng đó. Tự hỏi mình là ta nên đặt ở kia cái gì_ một loại đá nào đó ở mép trên lò sưởi, một màu tường nào đó, khoét cửa sổ hay cửa ra vào theo hình dáng nào đó , v.v… Với mỗi thứ, ta hỏi, nó có mang lại sự tĩnh tại trong ta nhiều hơn không? Nếu có, giữ thiết kế hay món đồ đó. Nếu không, loại nó đi. Cứ như vậy đối với mọi thứ xung quanh bạn.

Tóm tắt từ  Christopher Alexander, The Nature of Order, Book 3, Chapter 13



"In principle, a room is the sanctification and illumination of a life. It is your life made manifest. The room itself, like a cradle or a gathering together of a life, is, in its essence, the place of thousand joys and sorrows, the receptacle of your life and your children's lives, the embodiment, in physical order, of what yout spirit has been and has become.

That is, perhaps, a true purpose of a room. It is comfort, but true comfort, an inner spiritual comfort. When i describe it as spiritual it sounds ascetic, and too much connected with self-awareness. A good room is utterly comfortable. It is the real comfort, the comfort of the soul: but also the comfort of pillows, soft light, soubds just right for the ear, birds singing.a solitaryvine running up the front door and bearing ine, two, then three blossoms, the comfort of the paint outside on the building, thr feeling of happiness i feel when I come home to the deep reddish rose of my own house, the cages with hamsters stuck all iver the house, and the way my children squeal and play with those cages, the oil paints all over my studio, the voice of my dear wife singing, coming up from the room below. That is real comfort "
_ NOO, p.438, book 3

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Căn nhà gạch men hoa ở thành phố Mexico



Ở trung tâm thủ đô Mexico city, có một ngôi nhà rất đẹp gọi là Ngôi nhà gạch men hoa (Casa de los Azulejos). Được xây từ những năm 1800, tường ngoài căn nhà gần như được phủ hoàn toàn bằng gạch men hoa vẽ tay, với màu xanh lơ chủ đạo. Từ xa, ngôi nhà ánh lên màu xanh lấp lóa.
Khi Chris Alexander đến thành phố, ông quyết định đến thăm căn nhà này. Tại đó ông gặp một bất ngờ lớn. Những viên gạch men ở đây hình vuông to hơn cỡ 20x20cm một chút, chúng đều được vẽ bằng tay và dĩ nhiên là đúc thủ công. Nhưng cách chúng được ốp vào tường thì “thô ẩu” không thể tin được. Chúng được đặt méo mó, đường chỉ không đều, thậm chí mặt gạch còn gồ ghề không phẳng nữa. Theo tiêu chuẩn hiện đại, không ai lại chấp nhận một công trình cẩu thả như thế được.




Thế nhưng Ngôi nhà gạch men hoa được công chúng đánh giá là một trong những căn nhà- palace đẹp nhất của thành phố.

Chúng ta đã quen và thành fan cuồng của sự chuẩn xác trong từng chi tiết của công trình xây dựng. Lót gạch, thời bây giờ, đòi hỏi phải chúng phải thẳng hàng với nhau hoàn hảo, mỗi viên gạch cắt hoàn hảo theo size chuẩn không sai một ly, chúng ốp với nhau hoàn hảo với những đường chỉ mỏng dính thẳng tắp. Thế nhưng, nền gạch hoa của chúng ta trở nên trơ cứng, vô hồn.

Theo Alexander, những quy trình xây dựng của thời đại công nghiệp không chỉ mang tính máy móc, chúng còn tách rời những người xây với cái toàn thể của cái mà họ đang góp phần tạo ra. Mỗi nhóm thợ chuyên biệt đến làm một việc chuyên biệt- một công đoạn rồi đi, phần lớn họ ko thấy được cái toàn thể mà mình làm ra, bị cùm tay không cho ứng biến để qua công việc của họ, lèo lái công trình theo hướng thích ứng với hoàn cảnh hơn, có hồn hơn, và qua đó rút ra được niềm vui từ tay nghề của mình. Alexander cho rằng, nhiều thợ lành nghề đặt niềm tự hào trong tay nghề của mình vào sự hoàn hảo vô nghĩa trong chi tiết là bởi vì sự hiểu biết ý nghĩa thực sự của cái đẹp và cái trật tự toàn thể đã bị mất và không có điều kiện đạt được ở các quy trình máy móc của thế kỷ 20.

Nhưng sự hoàn hảo ở tầm tiểu tiết chỉ là vô nghĩa bởi nó chả liên quan và đóng góp gì đến sự hoàn hảo lớn hơn, ví dụ của cả bức tường. Trái lại, nó làm hỏng quá trình thiết lập trật tự. Quá trình này chỉ có thể đạt được khi mà mối quan tâm một cách sùng kính thái quá đến những chi tiết lặt vặt và máy móc bị dẹp bỏ sang một bên nhường cho cái toàn thể lớn hơn.



Để đạt được tính toàn thể, bạn phải chú tâm đạt đến loại hoàn hảo mà ở đó những thứ không quan trọng thì cứ để sơ sài còn những thứ quan trọng hơn phải được chú tâm nhiều hơn. Kết quả sẽ có vẻ như không đều, không hoàn hảo. Nhưng thực tế, thứ tưởng chừng như là sơ sài thô lậu (Roughness_ 1trong 15 đặc tính của sự sống) bề ngoài kia chính là một thứ hoàn hảo ở tầng trật tự sâu hơn.


Tại sao ở Ngôi nhà gạch men hoa kia, những viên gạch lại thô như vậy, lắp đặt méo mó gồ ghề như vậy? Phải chăng những nghệ nhân người Mexico không biết cách làm chúng chính xác thẳng thớm?  Ông không nghĩ vậy. Ông tin rằng đơn giản là họ hiểu cái gì quan trọng, cái gì không và chỉ chú tâm đến thứ quan trọng_ trong trường hợp này là màu sắc. Vì vậy, khi họ làm bức tường gạch men, họ để tâm đến màu sắc, đến hoa văn, đến cảm giác từng viên gạch mang lại, cái tương quan giữa nó với viên gạch kế bên_ đấy mới là những thứ thật sự quan trọng để tạo nên sự hòa hợp và cảm xúc của cả bức tường.

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

True landscape of architecture


"The true landscape of architecture then, architecture as it must be, is that arrangement of material, windows, seats, roofs,... which, as nearly as possible, helps us arrive at this blissful state. It is generated by the free application of a living adaptive process.

When we think of architecture, we see glossy magazines with shiny pictures: a certain glitzy, but intentionally febrile, sterile style of photograph. Have you ever thought how deeply wrong, how strange this is?

Here is a place my children used to love: a boat dock north of San Francisco, where my family and I sat, and walked, and played for hours. It has an informal character, which is neccessary to the way it works, and the way it allows people to be themselves. What happens here just CANNOT happen so easily within the geometric landscape of our image-full artificial 20th-century architecture ...  ...  No 20th-century architect will proudly say: I did this. Yet, this is where that inner something starts to live and breath.

After all, the true landscape of architecture is the landscape of people nourished, satisfied, living a full life, being happy, a landscape that shows that happiness derived from the surroundings. A true way of photographing architecture will show the drama of human life nourished, because it is steeped in the sun and shade of building form, photographs where the connection is visible, where the dependence of people's smiles, joy, happiness, is visibly connected with the walls, windows and doors, with the arrangement of the town and of the rooms and of the gardens where they are photographed.

As we may see from the examples, this condition of the world is far from the formal, over-geometric, stylized landscape of modernism and postmodernism- far, too, from the stylized landscape of classicism, ancient or modern, with its too-great emphasis on noble proportions and magnificence." Christopher Alexander_The Nature of Order_Vol.3, P.49
In the above picture, the simply-made curving wall, the colored blossoms, the roughness of the path, the tree, surrounded by unplanted earth- nothing too fancy, no flower beds, the telegraph pole, even its clutter helps to maintain the air of freedom. These again are by-products of living process. It is all this which gave the background to these two girls to be so joyful with one another.

This - the unpredictable dynamic temporary sate of life lived - is what we shall expect to see in a true landscape of architecture, and in a true language of architectural photographs.

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

Christopher Alexander và Về Bản chất của Trật tự_ Phần 7 & Kết

Một ví dụ về quá trình sự sống trong xây nhà


Dưới đây là giới thiệu lược giản quá trình Alexander xây căn nhà cho gia đình Upham vào năm 1993, được ông thuật lại chi tiết ở trong quyển 2 của bộ The Nature of Order. Nó giúp minh họa cụ thể cách mà hình hài căn nhà khai mở như thế nào cũng như phương pháp ông đề xuất có những điều nào giống và khác với các quy trình hiện hành trong ngành xây dựng-kiến trúc. Có vài điểm quan trọng cần lưu ý trước khi đánh giá phương pháp của ông qua ví dụ này.


  • Không phải công trình nào cũng đòi hỏi mức độ công phu như ở đây. Với một tiêu chuẩn khiêm tốn hơn, người ta thường không phải sửa chữa gì nhiều trong quá trình xây dựng mà vẫn có được một căn nhà ổn.

  • Có rất nhiều thay đổi kể cả thay đổi lớn trong suốt quá trình xây nhà Upham. Thay đổi trong lúc xây nhà, theo quy trình thông thường, đồng nghĩa với tốn kém, bực mình và mất thời gian. Nhưng ở đây không phải là loại thay đổi theo kiểu xây xong rồi đập ra sửa lại, thường xảy ra khi một sai sót thiết kế nhỏ ban đầu được để nguyên đến khi nó trở nên nghiêm trọng không sửa không được. Ông dùng những mock-ups, mô hình dựng lên tại chỗ bằng vật liệu rẻ tiền để xác nhận hình dạng thế nào là tốt nhất trước. Sau đó họ xây đúng như mock-ups. Tiếp, họ tập trung làm tốt nhất cái tiếp theo dựa vào những gì có sẵn chứ không quay lại chỉnh sửa cái đã xây xong. Đây là step-wise process, ở mỗi bước đều dựa vào những gì đang có để cố gắng làm đẹp nhất cái tiếp theo. Theo thực tiễn những công trình trung tâm CES của Alexander xây cho khách hàng, phương pháp này hoàn toàn không tốn kém hơn cách xây dựng thông thường.
  • Cần nhắc lại, loại cảm giác mà Alexander hướng tới là cảm giác về sự sống, về tính toàn thể (Xem Phần 3_ Sự sống hay tính toàn thể) Nó được chứng minh là ổn định và khá thống nhất giữa những người khác nhau. Nó khác với loại cảm giác đẹp xấu đến từ gu thẩm mỹ, từ lý luận hay cảm hứng là những thứ dễ thay đổi theo người và theo thời điểm. Nếu hiểu cảm giác theo nghĩa sau, tức nghĩa ta vẫn dùng thông thường, thì sẽ dẫn đến hiểu sai phương pháp và kết quả sẽ không tránh khỏi thay đổi xoành xoạch, xây xong rồi phải đập ra sửa lại trong lúc xây dựng.




Mảnh đất vườn trước khi gia đình Upham mua lại để xây
Mảnh đất này có một khu vườn xinh xắn nằm phía trên một cung đường cong. Mảnh vườn có ý nghĩa rất nhiều đối với cải khu phốyên tĩnh này. Ông nhận thấy để chèn thêm một căn nhà ở đây mà vẫn bảo tồn cái cấu trúc và tính toàn thể của khu vực, ông sẽ phải tìm một cách nào đó để hình dạng và vị trí căn nhà sẽ xây không phá hỏng vẻ đẹp của khu vườn và cái cách mà nó làm đẹp cho con đường.


Model đầu tiên của khu nhà trên địa hình mảnh đất vườn

Theo Alexander, model lúc đầu rất cần phải thật thô thật dễ làm dễ sửa. Một mô hình làm cẩn thận, chi tiết sẽ khiến cho cho việc thay đổi nó khó khăn hơn, ít sáng tạo hơn. Nguy hiểm hơn, một mô hình chi tiết nó sẽ chứa những quyết định về hình dáng tùy ý mà không phải từ quá trình khai mở từng bước của căn nhà. Với một cảm giác lờ mờ về tính cách của ngôi nhà và ý tưởng về khối tích và form ban đầu của công trình, ông cùng cộng sự quay lại miếng đất, cắm những cây cọc để dựng nên khung hình khối của nhà theo đúng kích thước thật. Lúc đó, họ nhận ra những bậc dốc trồng hoa ở đây đẹp hơn là hình dung trước đây. Cái ban công trong ý tưởng ban đầu chừa một chỗ quá hẹp cho nó. Họ chỉnh lại vị trí những cây cọc để chừa ra một mảnh sân rộng rãi hơn. Cũng trong lúc khảo sát ở hiện trường như vậy, hình ảnh một căn phòng có tường vòng cung bắt đầu nhen nhóm trong đầu. Tương tự, lúc này họ cũng cảm thấy hướng tiếp cận căn nhà tự nhiên nhất phải là từ góc sân phía tây dù nó không thuận với con đường giữa garage và nhà. Tiếp theo là quá trình chỉnh sửa mô hình, hoàn thiện hơn thiết kế từ những hiểu biết tại hiện trường, rồi dựng lại khối nhà bằng cọc tạm ở hiện trường, để đi đến mô hình cuối cùng. Nhóm của Alexander đã lên những căn nhà xung quanh phía trên đồi, nhìn từ tất cả cửa sổ ở đó ra xem cái khung nhà tỷ lệ thực đặt ở vị trí nào, độ cao nào sao chỗ căn nhà mới làm đẹp hơn không gian và view từ những cửa sổ hàng xóm thay vì phá hỏng chúng.  Song song đó, họ bắt đầu thử các thiết kế khác nhau bằng mô hình giấy lẫn xây thử bằng vật liệu thật tại hiện trường. Alexander vẫn thiết kếtheo trình tự chung từ cái lớn đến cái bé nhưng ông không răm rắp theo con đường này. Trong lúc cái thiết kế lớn chưa hoàn tất, ông đã bắt nghiên cứu những chi tiết nhỏ như cửa chính, tường, thậm chí chi tiết gạch ốp trang trí dựa theo những gợi ý đến với ông từ hiện trường đó. Ông thuật lại nhiều khi những đột phá ở khi thiết kế một chi tiết mang lại hiểu biết sâu sắc về cá tính căn nhà và giúp đột phá trong thiết kế cái tổng thể căn nhà. Dần dần cảm giác về tính cách của căn nhà nẩy nở rõ ràng hơn. 


Ướm thử mô hình cửa chính được làm rất chi tiết tại công trường
Mock-up bằng carton đầu tiên dựng nên để thử các form, màu sắc khác nhau. Các mẫu tường xây thử nghiệm khác nhau để hình dung cảm giác bề mặt và thiết kế của tường
Dưới đây là mô hình của khối nhà cuối cùng trước khi bắt tay vào xây dựng. Từ mô hình này, họ lập nên bản vẽ căn nhà để xin phép xây dựng. Ông nhấn mạnh là mô hình & vị trí các cây cột nhà được quyết định trước, bản vẽ theo sau. Bản vẽ phụ thuộc vào cây cọc thực tế, chứ không phải ngược lại.


Mô hình thô cuối cùng của khối nhà, trước khi bắt tay vào xây

Alexander cũng sẵn sàng thú nhận là dù trên bản vẽ xây dựng đã an bày vị trí các phòng, ông không thể biết chắc là cảm giác ở đó thế nào. Thậm chí ở tầng hai, ông hầu như không có cảm hứng gì đặc biệt khi sắp xếp chúng. Đối với ông, không có ai và không có cách nào khác biết sâu sắc hết những thứ đó. Mỗi thứ sẽ diễn ra từ từ, và ở mỗi bước, ông sẽ có đủ thông tin và hiểu biết để làm bước kế tiếp tốt nhất. Khi đổ xong nền nhà, cả nhóm sẽ đi lại trên đó, vẽ phấn nơi mà theo bản vẽ sẽ là những tường ngăn. Đây là lần đầu tiên họ mới thực sự có cảm giác rõ ràng cách ngăn phòng có hợp lý không. Vài bức tường ngăn sẽ được dịch đi vài inches. Điều quan trọng lúc này là làm sao ở cả hai bên tường ngăn, từng căn phòng đều đẹp và người ta thấy thoải mái ở đó. Sau đó nhóm dựng tường ngoài. Họ tạo những cốp pha cột di động để dễ bề chỉnh vị trí cây cột đó so với bản vẽ nếu cần. Khi đã hài lòng ở vị trí cuối cùng, họ cố định cột rồi mới đổ bê tông vào cốp pha.

Thử đi lại giữa các phòng xem vị trí cửa nào là tốt nhất với ô gần cửa sổ

Cả nhóm quanh lò sưởi. Cảm nhận xem đó có phải là chỗ làm họ thấy thoải mái nhất so với view, cửa phòng, độ lớn phòng hay không. Kích cỡ lò sưởi có ổn không.

Và họ lặp lại cách làm như thế cho cả căn nhà. Khi nền nhà xong, họ quyết định tiếp làm đẹp hơn từng phòng, từng cây cột nhà, từng cửa sổ. Trong quá trình đó, bản vẽ chỉ là gợi ý. Họ luôn sẵn sàng thay đổi khi ở đó họ cảm thấy có gì không phù hợp, hoặc có gì làm cho không gian đó đẹp hơn hẳn mà lúc vẽ họ không nhận ra. Căn nhà dần dần khai mở theo cách của nó, đôi khi theo một cách bất ngờ. Nhưng do không cố bám theo một hình ảnh cụ thể nào đó, chuyện thay đổi đối với họ là một phần tất yếu để căn nhà đẹp hơn, thay vì là một điều gây stress.


Bản vẽ tầng 1 cuối cùng để nộp Sở xây dựng Berkeley (Trái).  Và bản vẽ tầng 1 thực tế khi xây xong (Phải).



Dưới đây là loạt ảnh hoàn thiện của căn nhà Uphams. Những công trình của Alexander thoạt trông có vẻ không hiện đại nếu như hiểu hiện đại nghĩa là những cái form độc đáo được kỹ thuật kết cấu tiến bộ cho phép, hay vật liệu tân kỳ xa lạ. Thế nhưng bên dưới cái vẻ tầm thường, tưởng như sơ sài là một thứ chất lượng không gian sống mà hầu như tất cả những sự tiến bộ của thời bây khó có thể tạo ra được. Căn nhà toát lên một sự thoải mái đầy sức sống. Không chỉ là ta cảm giác thoải mái khi ở trong nó, mà chính căn nhà tự nó như cũng đang thoải mái (relaxed), duyên dáng hài hòa mà vẫn độc đáo khác biệt. Cũng giống như sự sống ngoài tự nhiên rất hiếm khi phải gồng mình để đẹp.


Ban-công phụ
Sảnh vào. Sảnh được chỉnh lại rộng hơn dự tính ban đầu để có chỗ thêm vào ô sáng xung quanh cửa. Nguyên do tại công trình họ thấy ánh sáng nếu chỉ từ cửa vào như thiết kế ban đầu sẽ không đủ cho phòng sảnh này đẹp.
Phòng khách nhỏ và mãnh liệt sức sống. Từng khung cửa, từng nẹp cửa, pattern trên trần nhà, trên cột nhà đều được họ thiết kế, thử bằng mô hình (giấy, ruy-băng,v.v..)  tại công trình trước khi hoàn thiện. Những cây cột này cũng được ướm thử và xê dịch trước khi cố định. Thay vì chia đều các ô cửa sổ, họ nhận thấy là khi để các cửa sổ ở giữa rộng hơn chỉ một chút so với cửa sổ ở hai biên, cảm giác căn phòng trở nên hay hơn rất nhiều.

Phòng ăn & bếp có lẽ là một phòng khai mở ra tuyệt nhất. Thiết kế ban đầu (bản vẽ nộp xây dựng) sắp đặt một phòng ăn và bếp ở góc phía Tây, bên ngoài phòng sẽ làm một mảnh sân có chỗ ngồi ngắm xuống đường. Khối phòng này có vấn đề là bởi hình dáng cắt khúc chữ L nên dễ có cảm giác ngăn cách giữa khu bếp và khu ăn. Sau khi đổ nền xong, ông mới thấy căn phòng này vẫn chưa ổn nhất. Tại đó họ quyết định bỏ luôn sân ngoài (bởi ngồi thử ở ngoài đó cảm giác hơi chật, và thường người ta cũng ít ngồi như vậy) để làm giàu hơn rộng hơn không gian ở phòng ăn & bếp. Đồng thời, một thay đổi trước đó về kết cấu tường chịu lực để cho phòng sảnh cạnh bên sáng sủa hơn cũng dẫn đến đòi hỏi thay đổi tường ở phòng ăn bếp. Kết quả là họ có một căn phòng rất khác so với thiết kế ban đầu.


Từ phòng bếp nhìn ra, bàn ăn góc bên trái cạnh cửa sổ
Phòng ăn
Không gian cả trong phòng bếp và bên bàn ăn toát ra một chất lượng sức sống rất mãnh liệt mặc dù nó trông đơn sơ mộc mạc, ở đây thiếu hoàn toàn những cố gắng tạo điểm nhấn thị giác theo cách thông thường. Chất lượng đó thật đến mức ta tưởng như có thể chạm được nếm được. Cái lò nướng cũng là kết quả tuyệt vời của quá trình khai mở từng bước, mà nếu áp đặt trước trên bản vẽ và làm đúng y như vậy sẽ hiếm khi đạt nổi. Chỉ cần xoay cửa lò một góc nhỏ, hoặc dịch chuyển vị trí của lò đi dăm mười cm, hoặc làm to hơn một chút là nó sẽ chia cắt căn phòng thành hai khu tách biệt không liên quan gì với nhau. Thay vì như hiện giờ, nó vừa kết nối, vừa phân định, rồi lại kết nối hai khu với nhau một cách hết sức uyển chuyển.

Cảm giác phố quát (common sense) kiểm soát quá trình tạo hình căn nhà. Nó có hình dạng như vậy là từ quá trình khai mở từng bước, không bị quan tâm đến Hình ảnh cuối cùng (Image) mà đến Thực tế.




Tạm kết Chỉ vì xây một căn nhà đẹp, Alexander đã phải biến mình thành nhà vũ trụ học. Nhưng ông không lập dị hay đơn độc như vài chục năm trước. Những lý thuyết và phát hiện của ông tìm được ngày càng nhiều sự quan tâm và tiếp bước nghiên cứu trong ngành khoa học thiết kế và ngành khoa học mới về hệ phức (vd, những hệ sinh thái, xã hội, big-data, internet, não bộ, thị trường, đô thị, khí hậu, ...). Hy vọng qua phần giới thiệu về Christopher Alexander và bộ The Nature of Order ở đây, ta có thể bắt đầu một cái nhìn mới đầy thú vị. Nó hứa hẹn chỉ ra những minh triết cổ xưa trong các công trình kiến trúc truyền thống tưởng chừng lạc hậu, những quy luật thâm trầm bên dưới một đô thị tự phát hữu cơ, những trật tự có tính cấu trúc bên dưới thế giới hiện tượng. Nó chỉ ra đầy thuyết phục rằng thẩm mỹ không phải là thứ vec-ni của các bố cục trừu tượng, mà nó xuất hiện từ cấu trúc thẳm sâu thông qua một quá trình. Với Alexander, con đường đi tìm Chân, Thiện, Mỹ tưởng đã phân ly giờ lại có cơ hội gặp nhau.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Christopher Alexander và Về Bản chất của Trật tự_ Phần 6

Phương pháp generative

Christopher Alexander: Judo Hall, Eishin Campus, Tokyo
 "Alexander cho rằng cần phải có một quá trình phát triển thích hợp mà ông gọi là quá trình biến đổi bảo toàn cấu trúc. Đó là quá trình biến đổi (transform) và thích ứng (adaptation) dựa trên điều kiện hiện tại nhằm tạo nên một cái toàn thể (the wholeness). Ông triển khai quá trình generative với những thuộc tính được nhà nghiên cứu đô thị Michael Mehaffy trình bày như sau:

  • 1.    Luật xác định quá trình phát triển lần lần, quá trình generative
  • 2.    Luật quy định rằng trong quá trình này, hành động của con người sẽ theo các quy luật, phối hợp với các đánh giá dựa trên cảm xúc trong việc thích ứng với cái đã có trước.
  • 3.    Tại mỗi bước luật dựa trên các điều kiện-đã-trở-thành-hiện-tồn lúc đó như một tổng thể.
  • 4.    Tại mỗi bước nó xác định phần yếu nhất của cấu trúc và hành động để cải thiện và tăng cường cấu trúc.
  • 5.    Tại mỗi bước nó có thể áp dụng các kiểu mẫu và các giải pháp đã được luật hóa trước đó và thay đổi chúng theo điều kiện mới.
  • 6.    Tại mỗi bước nó phân biệt không gian theo một sơ đồ gọi là các “trung tâm”
  • 7.    Các trung tâm được phân biệt thông qua 15 quá trình biến đổi duy trì cấu trúc
  • 8.    Cơ sở hạ tầng theo sau. Giống như quá trình biến đổi hình thức của cơ thể sống (morphogenesis), các mô được hình thành trước, sau đó là các mạch máu. Các kiểu mẫu nhân văn (human pattern) và không gian nhân văn phải đi trước sau đó mới là đường sá, mạng lưới đường ống thoát nước, và những thứ tương tự theo sau chứ không phải ngược lại.
  • 9.    Sự biểu hiện thị giác theo sau. Các kiểu mẫu và không gian nhân văn đi trước, các công trình biểu hiện thị giác và các công trình tạo điểm nhấn theo sau chứ không phải ngược lại. Nếu không chúng ta chỉ đơn giản buộc mọi người sống trong các khối điêu khắc không liên hệ, xa lạ.
  • Vào cuối mỗi chu kỳ, kết quả được đánh giá và chu kỳ được lặp lại. " (*)

Christopher Alexander: Nội thất trong Hội trường lớn, Eishin Campus, Tokyo

Ứng dụng của quy trình generative trong các công trình kiến trúc

Phương pháp generative đi ngược với tư duy thiết kế dựa vào hình ảnh (image-based design thinking) đương thời mà thể hiện rõ nhất qua sự chú trọng ngày càng lớn vào hình ảnh cuối cùng và vào các bản vẽ của nó. "Nếu bạn tạo ra ngay một lúc toàn bộ một công trình lớn chỉ dựa vào một "ánh chớp cảm hứng thiên tài" thì khi nó sai, nó sai theo cả nghìn cách khác nhau. Ngược lại, phương pháp thiết kế từng bước cung cấp phương pháp luận và cơ chếkiểm tra để sửa những sai sót trước khi sai sót nhỏ trở nên nghiêm trọng. Ngay cả chỉ một căn nhà nhỏ cũng là sản phẩm của rất nhiều các quyết định thiết kế. Về mặt toán học, không cách gì có thể ra từng ấy quyết định vào ngay một lúc mà thành công." (**)
Alexander không đồng ý việc ngành kiến trúc đặt nặng vào bản vẽ còn KTS ngày càng đấu tranh sống mái để căn nhà xây lên đúng y đúc như bản vẽ của mình. Thứ nhất bởi vì bản vẽ luôn chứa trong đó nhiều quyết định tùy ý, nhiều giả định mà người ta chỉ có thể kiểm chứng được khi chính họ ở trong môi trường 3D thực. Tại sao anh vẽ cửa sổ như thế này, ở chỗ này, cao như vậy mà không cao hơn một chút, hay dịch qua bên trái một chút? Có rất nhiều khi những quyết định như vậy xuất hiện trong bản vẽ không phải bởi vì vị trí cửa sổ ở đó với kích thước đó là lựa chọn đẹp nhất cho ánh sáng và không gian trong phòng mà bởi vì người ta thấy là_trên bản vẽ_ nó đẹp, hoặc đơn giản là ngay cả khi người ta chưa chắc cái cửa sổ đó phải như thế nào mới đẹp nhất nhưng họ vẫn cần phải vẽ một cái cửa sổ ở đó đã. Thứ hai, bởi vì trong bản vẽ chứa đựng rất nhiều những quyết định tùy ý như vậy, thay vì để cho quá trình xây nhà khai mở từng bước rồi ở mỗi giai đoạn xác nhận hoặc chỉnh sửa những quyết định sai lầm trên bản vẽ, nếu có, theo hoàn cảnh không gian thực tế, thì việc khăng khăng giữ theo bản vẽ chỉ khiến cho mật độ những quyết định sai giữ lại trong hình dáng căn nhà cao hơn.  
Trong thời đại vẽ máy phát triển vượt bậc, ta có thể nghĩ rằng vấn đề khác biệt giữa bản vẽ và thực tế chỉ là chuyện nhỏ, dễ dàng được khắc phục bằng nhiều phối cảnh 3D, kể cả 3D tương tác động. Nhưng không phải hoàn toàn như vậy. Mặc dù bản vẽ và phối cảnh giúp ích rất nhiều trong việc hình dung vật thể được thiết kế, có những thứ chỉ có thể cảm giác được trong môi trường không gian thực, đặc biệt là hình dung về chất lượng không gian bên trong và ngoài vật thể. 

Bản thân tôi đã trải qua một kinh nghiệm như vậy trong lần đi sắm xe ô tô gần đây. Mặc dù tôi đã xem qua hình ảnh thật và cả video của những mẫu xe khác nhau, không gì so sánh được với cảm giác ngồi ở bên trong chúng. Cảm giác nó rộng rãi, chật hẹp, sáng, tối, vững vàng và thoải mái như thế nào khác nhau với từng mẫu xe và chỉ có thể cảm nhận chắc chắn lúc ngồi ở bên trong. Tôi đặt mua một mẫu xe thỏa mãn tiêu chí của mình. Vài ngày sau, trong lúc chờ nhận xe, tôi quay lại salon đóng tiền và nhân tiện ngồi lại vào chiếc xe mẫu mà mình sắp có được. Cũng chiếc xe hôm trước tôi ngồi thử nhưng sao lần này thấy lạ quá. Khi tôi ngồi thả lỏng dựa lưng vào ghế ôm vô lăng thì không sao, nhưng mỗi lần ưỡn người ngồi thẳng lưng hoặc rướn lên trước để làm gì đó thì đầu chạm vào nóc xe thật vướng víu khó chịu. Tôi chỉnh ghế lùi ra sau nhưng nó ko giúp ích được bao nhiêu. Ngay phút đó, một cảm giác sững sờ và gò bó kinh khủng ập đến. Làm sao có thể lái xe cả đoạn đường dài mà chỉ được ngồi khòm khòm lưng tựa vào lưng ghế dù là ghế êm cách mấy đi nữa? Thật không thể tin nổi tôi đã đặt mua một chiếc xe kinh khủng này, đặc biệt thật mỉa mai khi tôi đã chú ý ngồi thử trong nó và lắng nghe cảm giác của mình!? Loay hoay một lúc sau, tôi mới phát hiện ra chiếc ghế tôi ngồi ngoài chỉnh hướng tới lui còn có thể điều chỉnh cao thấp. Một vị khách nào đó trước tôi khi ngồi thử trên xe đã chỉnh ghế lên cao vài cm để vừa tầm mắt họ nhưng lại khiến nó trở nên quá cao với tôi. Tôi chỉ việc hạ ghế xuống và mọi thứ lại trở nên hoàn toàn ổn thỏa. Vấn đề là ngay cả khi tôi có xem có vô số hình ảnh hay bản vẽ nội thất xe, không có gì giúp tôi nhận ra được, giữa rất nhiều các chi tiết nội thất đó, độ cao của ghế xe như trong ảnh có đúng hay sai và nó sẽ ảnh hưởng đến mình thế nào. Ngay cả khi một người có năng lực đọc bản vẽ và hình dung hình dáng cuối cùng của vật thể rất tốt, người đó cũng khó có thể hình dung được cảm giác ở những vị trí khác nhau bên trong vật thể đó như thế nào. Nếu như từng đấy hình ảnh của một sản phẩm được trau chuốt kỹ như xe ô tô còn không giúp ta biết được hết, thì liệu vài bản vẽ, vài phối cảnh máy tính của căn nhà có đủ cung cấp thông tin cần thiết để ta quyết định xây đúng y đúc như vậy không?

Một vấn đề nữa của phối cảnh máy tính là phần lớn nó bị sử dụng sai. Thay vì là một công cụ giúp KTS thử nghiệm những hình dạng khác nhau một cách chân thực nhất có thể, không ít phối cảnh 3D chỉ được sử dụng như một công cụ để trình bày (presentation), được dựng nên khi hình dạng căn nhà đã được quyết định xong và chỉ nhằm mục đích minh họa và thuyết phục chủ đầu tư. Nhiều lúc người ta dùng chiêu trò phối cảnh, bầu trời acid rực rỡ, ánh sáng không thực tế, v.v… để ‘photoshop’ khiến hình ảnh căn nhà trở nên long lanh hấp dẫn hơn và càng xa rời thực tế hơn. Theo Alexander, người ta phải vượt qua ham muốn kiểm soát hình dạng cuối cùng của một công trình, nếu muốn nó thực sự là một công trình sống. Bản vẽ vẫn cần thiết để định hướng căn nhà và để đáp ứng cái đòi hỏi của quy trình xây dựng hiện hành, nhưng chúng chỉ nên là gợi ý. Ở mỗi bước của quá trình xây nhà, người ta cần phải ở đó xem xét và lắng nghe ở không gian thực cái gì là bước tiếp theo hợp lý nhất, làm tăng sự sống của căn nhà nhất, đảm bảo tính toàn thể nhất. Điều này nghe có vẻ viển vông nhưng Alexander không chỉ là một nhà nghiên cứu lý thuyết, ông còn là kiến trúc sư đứng ra trực tiếp xây dựng những công trình theo phương pháp của mình.
Ông gay gắt: " Từ thế kỷ 20 hình ảnh có một quyền năng đặc biệt là nó không phục tùng thực tếvà thậm chí thường là quan trọng hơn thực tế... Những công trình kiến trúc được đánh giá _ ít nhất là bởi các thành viên trong ngành- qua cách nó xuất hiện trên các tạp chí hơn là qua sự hài lòng của những người dùng nó" "Images in the 20th century had a unique power where image became divorced from reality, and often more important than reality... Buildings were judged - at least by members of our own profession - more by the way they looked in magazines than by the satisfaction people felt when using them."

Christopher Alexander: khối nhà khu Cao đẳng, Eishin Campus, Tokyo



Ứng dụng của quy trình generative trong thiết kế đô thị và những lĩnh vực khác
Đô thị cổ Hội An. Ngôn ngữ kiểu mẫu hiện diện rõ rệt, phản ánh pattern sống của người cảng thị một thời. Ở đây có quy trình generative, có sự khai mở từng bước, có thích ứng (adaptation) tại chỗ. Một cái-toàn-thể đẹp & có sự sống

Các đô thị truyền thống cung cấp rất nhiều chất liệu thực tiễn quý giá cho việc nghiên cứu quá trình generative và ứng dụng trong quy hoạch đô thị mới để tạo ra những đô thị đẹp, giàu sức sống.
Ở Việt Nam, có thể tiếp nhận nhiều kiến thức bổ ích về phương pháp này qua Giáo trình thiết kế đô thị_ Phương pháp generative và Ngôn ngữ Kiểu mẫu, 2016 do T.S. Nguyễn Hồng Ngọc_ Đại học Đà Nẵng biên soạn. Ông nghiên cứu chuyên sâu vào các hình thức đô thị bền vững, các luật generative và luật dựa trên hình thức trong thiết kế đô thị; và có nhiều bài giới thiệu về phương pháp generative có thể tham khảo trên blog http://qhdt.blogspot.com


Một rặng san hô do máy tính generate ra (ko phải vẽ ra). Với hiểu biết sâu sắc về thuộc tính tỷ lệ và hình học tương đồng, con người có thể kiến tạo những cấu trúc sống động sâu sắc đến mức ta có thể nhầm đây với 1 cảnh tự nhiên. Prokofiev@wikimediacommons


Tham khảo:
(*) Giáo trình thiết kế đô thị_ Phương pháp generative và Ngôn ngữ kiểu mẫu, Nguyễn Hồng Ngọc, 2016

(**) The "Wholeness-Generating" Technology of Christopher Alexander. Michael Mehaffy and Nikos A. Salingaros http://www.metropolismag.com/Point-of-View/October-2011/The-Wholeness-Generating-Technology-of-Christopher-Alexander/

Christopher Alexander và Về Bản chất của Trật tự_ Phần 5

Mười lăm thuộc tính hay mười lăm phép biến đổi của quy trình sự sống


Khi xem xét thế giới tự nhiên, từ hòn đá vô cơ đến hệ sinh thái phức tạp, từ cấp độ vi phân tử cho đến các vật thể ở tầm vũ trụ, Alexander phát hiện ra về mặt hình học tất cả chúng đều có một hoặc một vài thuộc tính lặp đi lặp lại trong tổng cộng 15 thuộc tính

Ông không khẳng định rằng dứt khoát chỉ có 15 thuộc tính mà thôi nhưng từ nghiên cứu trong vòng 27 năm từ khi hoàn thành Một ngôn ngữ kiểu mẫu ( A Pattern Language_ viết tắt APL) đến khi viết Về bản chất của Trật tự (The Nature of Order_ viết tắt NOO), ông cho rằng số lượng thuộc tính cơ bản nằm ở khoảng đó, không phải là một vài cũng không phải hàng trăm.  (*)
Dưới đây là tên gọi của các thuộc tính.
  • 1.    Các mức tỷ lệ (Levels of scale)
  • 2.    Các trường trung tâm mạnh (Strong centers)
  • 3.    Các đường biên dày (Thick bounderies)
  • 4.    Sự lặp xen kẽ (Alternative repetition)
  • 5.    Không gian tích cực (Positive space)
  • 6.    Hình dạng tốt (Good shape)
  • 7.    Đối xứng cục bộ (Local symmetries)
  • 8.    Đan xen chặt và sự nhập nhằng (Deep interlock and ambiguity)
  • 9.    Sự tương phản (Contrast)
  • 10.  Sự chuyển dần (Gradient)
  • 11.  Sự thô ráp (Roughness)
  • 12.  Tiếng vọng (Echoes)
  • 13.  Khoảng trống (The void)
  • 14.  Mộc mạc và tự tại  (Simplicity and Inner Calm)
  • 15.  Không phân ly  (Not-separateness)


Sương đọng trên mạng nhện.  Thuộc tính Các mức tỷ lệ, Trường trung tâm mạnh.

Trái: "Không gian tích cực" ở cấu trúc tế bào trong mô gỗ.  Phải: "Hình dạng tốt" trong một ngọn sóng bạc đầu

Hình dạng khác nhau của những tinh thể tuyết hình thành tự nhiên. Chú ý đến sự đối xứng ở bậc thứ hai ở từng cánh của ngôi sao tinh thể khiến mỗi cánh trông rất giống nhau, trong khi không có lý do cơ học nào rõ rệt giải thích được điều này. Thuộc tính: đối xứng cục bộ

Ở trong NOO, Alexander đưa ra rất nhiều dẫn chứng cho chúng mà ở khuôn khổ bài này khó có thể giới thiệu chúng xứng đáng.

Để minh họa cho tất cả các thuộc tính xin xem trên blog http://qhdt.blogspot.com và Giáo trình thiết kế đô thị (*), hoặc ở trang tiếng Anh này http://www.tkwa.com/fifteen-properties/ . Tương tự với khái niệm Trường trung tâm  là một khái niệm quan trọng để hiểu rõ về tính toàn thể (the wholeness).

Điều đặc biệt chúng không chỉ là 15 thuộc tính (tĩnh) mà theo ông, còn là 15 phép biến đổi hình học (động) bảo toàn cấu trúc (structure-preserving transformation). Ông chỉ ra rằng trong quá trình thế giới tự nhiên vận động, chúng biến đổi hình dạng theo một hoặc vài trong số 15 phép biến đổi này. Từ 15 phép biến đổi này mà thế giới tự nhiên có được muôn hình vạn trạng đẹp đẽ sống động của nó.

Hay nói một cách khác, nếu như những nhà khoa học chuyên ngành đi tìm các quy trình lý, hóa, sinh, thiên văn, v.v.. để giải thích sự vận động biến đổi của đối tượng quan sát thì lý thuyết này của Alexander cung cấp một cách tiếp cận mới việc nghiên cứu sự biến động của tất cả các đối tượng ở góc độ cấu trúc hình học, qua các quy trình biến đổi bảo toàn cấu trúc. 


Vài hình ảnh về công trình trường trung học và cao đẳng Eishin do Alexander thiết kế.
Trường trung học và cao đẳng Eishin, gần Tokyo.
Các thuộc tính: không gian tích cực giữa các tòa nhà. Các mức tỷ lệ. Đối xứng cục bộ.  Khoảng trống. Tiếng vọng. Mộc mại và tự tại. Thô ráp


Trường trung học và cao đẳng Eishin, gần Tokyo
Các thuộc tính: đường biên dày, sự lặp xen kẽ, đối xứng cục bộ

Xem thêm hình ảnh của Eishin campus ở Katarxis3 http://www.katarxis3.com/Gallery/community/community.htm

Kartaxis3 là tạp chí online do một số nhà khoa học hàng đầu thế giới thuộc nhiều lĩnh vực như vật lý, sinh học, kiến trúc thành lập. Trong đó có những gương mặt rất nổi tiếng như giáo sư Nikos Salingaros, GS toán và vật lý ĐH Texas tại San Antonio, nhà đô thị học được tạp chí quy hoạch Planetizen chọn là người thứ 11 có ảnh hưởng nhất trong quy hoạch đô thị, Michael Mehaffy, nguyên Giám đốc chương trình Đào tạo của Quỹ giáo dục của thái tử Charles, GS thỉnh giảng ĐH Arizona State University, nhà sinh học nổi tiếng Brian Hanson, và đặc biệt là Lucien Steil, tổng biên tập của tạp chí Nature. (*)


* trích Giáo trình thiết kế đô thị_ Phương pháp generative và Ngôn ngữ kiểu mẫu_ viết tắt Giáo trình TKDT)