Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

My fish pond

I've had a love for fish and aquarium for a long time. Seeing them in an environment that resembles natural habitat is always something rewarding to me. To me, it's not as much about the fishes, how they look, what colors they have, as about the relationship of everything else about it: how much spaces the fishes have for themselves, how certain plant or rock well placed could help the fishes more comfortable, this i felt certain, immensely.

When i was a kid, i used to have aquarium jars, big and small, glass and earthen. My favorite was a big jar, with some fanwort plants and a few small insignificant fishes inside. Back in those old days of the 80s, Vietnam was so poor that infrastruture was neglected. Whenever it rained, rainwater made a light flood on the streets and hurried in streams on both sides of the road toward the sewage. The pavement in front of my house got puddle every time. But it was great. When it was big rain, the flood water would be clear, kids would come out in groups to play in the street. I sometimes would took my catfish jar out and poured into the puddle so that the fish could enjoy the fresh rainwater and the experience of real rain. It was such joy to me, not the fun of playing a toy, but the joy of believing I was bringing the fish its real joy, real playtime. I never thought much of how much stress the fish had when i tried to catch it back. Or rather i thought the fish would agree with me that it was worthwhile. And of course, i never thought if and how i knew what the fish felt. Once in a while, I'd loose a fish when it made it out of the puddle and into the stream of water, to its true freedom. I was sad but somehow still felt it worthwhile. I'd risk it again next time.

For a few reasons, i stopped keeping aquarium and having any fishes after 14. The love is still there. I rarely pass by any open water without wondering and hoping for a glimpse of fish inside. But, i tell myself, if i were to have fishes again, I would have them in a pond instead of the glass tank. I want them to have more freedom and privacy, things that a glass tank can hardly provide.

Luckily now i'll have a shot of making a pond.

One of the most inspiring and memorable passages from The Timeless Way of Building was when Christopher Alexander described a fish pond and its profound impact on him. It was almost a spiritual experience to him, just by being there with something so ordinary and care-free yet having a quality that was true and that reached deep and connected deeply. It’s almost like wabi-sabi but Chris wanted to convey a quality which was beyond aesthetics. He didn’t have a name for it then, sometimes calling it a quality without a name, sometimes ‘wholeness’. The word wholeness which appeared only vaguely, reluctantly in his mind back then would decades later, in the Nature of Order books, emerged as the name of that quality he’s been trying to reach.

I once saw a simple fish pond in a Japanese village which was perhaps eternal. A farmer made it for his farm. The pond was a simple rectangle, about 6 feet wide, and 8 feet long; opening off a little irrigation stream. At one end, a bush of flowers hung over the water. At the other end, under the water, was a circle of wood, its top perhaps 12 inches below the surface of the water. In the pond there were eight great ancient carp, each maybe 18 inches long, orange, gold, purple, and black: the oldest one had been there 80 years. The eight fish swam, slowly, slowly, in circles--often within the wooden circle. The whole world was in that pond. Every day the farmer sat by it for a few minutes. I was there only one day and I sat by it all afternoon. Even now, I cannot think of it without tears. Those ancient fish had been swimming, slowly, in that pond for 80 years. It was so true to the nature of the fish, and flowers, and the water, and the farmers, that it had sustained itself for all that time, endlessly repeating, always different. There is no degree of wholeness or reality which can be reached beyond that simple pond. 

I hope I can update how my pond goes soon. I've designed it with some Christopher Alexander's pattern in mind. It_ together with the house_ is in construction now.

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2018

Hồ sơ Cambridge Analytica

Cái tên Cambridge Analytica nổi lên ngay sau bầu cử tổng thống Mỹ như là con ách công nghệ quan trọng trong chiến thắng của phe ông Trump. Công ty này được cho là đã phân tích tốt hơn cả so với các công cụ của đối phương trong việc xác định đâu là những khu vực còn chưa nghiêng hẳn theo phe nào, đâu là nhóm cử tri đang lung lay, dễ lung lay vì lý do gì, và nhờ đó tập trung nguồn lực để micro-targeting đánh vào tâm lý vào những đối tượng cần đánh, lật những bang có thể lật, dẫn đến chiến thắng chung cuộc gây choáng váng cả hệ thống chính trị Mỹ.
Giờ đây Christopher Wylie, data scientist (khoa học gia dữ liệu) của công ty C.A trên, vì ăn năn do tội lỗi mình góp phần gây ra, quyết định tuýt còi, chịu đứng ra nói lên những chuyện sai trái bên trong cách thức hoạt động của công ty.

Về bản chất, đây là câu chuyện về một chiến dịch chiến tranh tâm lý bài bản, loại mà một số quân đội đã dùng để đánh lên những cuộc bầu cử ở các nước khác, nhưng khác hẳn về quy mô, tầm vóc và đối tượng.
Những phân tích bằng giải thuật máy tính thường cung cấp hiểu biết về con người chính xác đáng ngạc nhiên. Anh có khuynh hướng chính trị nào, những cái anh “thích” và chia sẻ có nội dung như thế nào, những thứ hút được sự quan tâm của anh là vài dòng chỉ nên ngắn gọn hay phức tạp sâu sắc , loại kích động, nghiêm túc hay hài nhảm, lảng bảng mèo mây hoa nhạc; tin tức ở trang nhà những người bạn nào thường được anh đọc và tương tác nhất…. Thật khó nuốt điều này, nhưng trong nhiều trường hợp, máy hiểu con người nhiều hơn con người hiểu nhau hay ta tự hiểu chính mình. Có những pattern mà con người nghĩ là không liên quan nhưng máy tính với số lượng dữ liệu lớn cho thấy nó có liên quan, vd như thường những người nhấn thích “Tao ghét Israel” trên Facebook cũng là những người thích giầy Nike và bánh sôcôla Kitkat.
Chris Wylie là một người kỳ lạ. Bị tự kỷ và chứng ADHD (thiếu tập trung và tăng động), 16 tuổi nghỉ học thì 17 tuổi đã ngồi làm cho văn phòng lãnh đạo Đảng đối lập ở Canada. 18 tuổi học về data từ cỗ máy vận động tuyên truyền của Obama. 20 tuổi học luật ở trường LSE danh tiếng, rồi nghiên cứu vềdùng học máy để đưa dự đoán khuynh hướng thời trang máy. Năm 24 tuổi, chính Wylie nảy ra ý tưởng mà sau này trở thành nền móng cho công ty Cambridge Analytica và góp sức ban đầu cho đến ngày ý tưởng đó mọc lông cánh và biến thành một con quái vật ngoài tầm định liệu của Chris. Những chính khách Canada bảo anh là một trong những người sáng trí nhất, còn những đồng nghiệp cũ của anh, kể cả những người thích anh, bảo anh ‘Machiavellian’_ tức cáo già, khôn ngoan và cả thủ đoạn. 28 tuổi, khi anh quyết định đứng ra tố cáo với báo chí, ta không thể nào nhìn ra đâu là cậu bé tự kỷ ở cái người thông minh, nhuộm tóc hồng và ăn nói trôi chảy trong video clip này. Rành về chính trị từ nhỏ, thạo thủ thuật tâm lý chiến, hầu như vào bất cứ ai : đây ko hề là con người dễ đọc.
Từ dữ liệu thu hoạch, công ty C.A lập hồ sơ tâm lý của từng người, rồi kết hợp với tâm lý học và mạng xã hội, tiến hành một chiến dịch tuyên truyền nhắm vào người Mỹ. Họ tạo ra hàng loạt website, bản tin, những mẩu ‘quảng cáo chính trị’ dễ chia sẻ, …, tóm lại là chế ra tất cả những gì cần làm để thu hút quan tâm và làm xoay chuyển quan điểm từng nhóm người. Họ sẽ khéo léo đặt loại tin nào ở trong news feed của ai, số lượng lần cần xuất hiện, thậm chí cần ảnh hưởng lên những người bạn nào, để dần dần thay đổi tâm lý và quan điểm của đối tượng bị nhắm.
Đó là một cuộc chiến tâm lý quy mô và tương quan chưa từng có. Một bên là một nhúm người rất nhỏ, trong bóng tối, tư nhân. Bên kia là cả một quốc gia với thiệt hại đi kèm là tiến trình dân chủ của quốc gia đó. Một bên không cần loa công suất lớn, loa phường hay rải truyền đơn mà chỉ “thì thầm bên tai” từng người, lựa đúng tin mồi để đút lên Facebook nạn nhân. Bên kia là hàng triệu người dùng Facebook không chỉ không có khả năng kháng cự lại cuộc tấn công từ kẻ thù đi guốc trong bụng mình, mà thậm chí còn ko thể biết họ đang bị đánh. Họ tưởng rằng quan điểm chính trị của mình, nếu có thay đổi hay có trở nên vững chắc hơn là do chính họ tự tìm đọc, tự khám phá và gầy dựng nên; rằng phe của họ mới là chính nghĩa, là đa số, còn phe bên kia chắc sống ở thế giới nào khác không thể hiểu nỗi.
Trong big data thì giải thuật chỉ là một yếu tố, hơn thua nhau thường chủ yếu là ở chỗ ai thu hoạch được nhiều dữ liệu / nguyên liệu thô hơn. Cách Cambridge Analytica thu hoạch dữ liệu người dùng FB, qua tiết lộ của Chris Wylie, khiến ta ko khỏi rụng rời. Có một học giả ở trường Cambridge được FB cấp quyền cho mục đích nghiên cứu-giáo dục. Ông này viết 1 cái app trên Amazon, đại loại giống mấy trò chơi trắc nghiệm tính cách nhảm vui vẫn xuất hiện nhan nhản mà trước khi chơi người chơi đồng ý để app đó truy cập dữ liệu Facebook của họ. Nhưng tởm hơn, cái app này được phép lấy luôn thông tin cá nhân của những bạn trong danh sách bạn của người chơi, bất kể những người bạn này không chơi và ko được hỏi có đồng ý hay không.
Nói nôm na là nếu ai đó trong 500 anh em trên mạng của mình chơi trò chơi đó, dữ liệu cá nhân của mình (profile, những status, những likes,…) cũng bị lấy theo mà mình ko hề hay biết và ko có bất cứ dấu hiệu cảnh báo. Trong một số trường hợp, app đó có thể lấy cả tin nhắn cá nhân trên FB.
Trung bình 1 người tham gia chơi cái app trắc nghiệm tâm lý dường như vô hại đó sẽ thu hoạch về cho C.A. hồ sơ của 160 người khác. Tổng cộng họ thu thập được hơn 50 triệu hồ sơ người dùng và khoảng 1/3 trong số đó là ở Bắc Mỹ.
Facebook đổ lỗi cho ông học giả được cấp quyền đã vi phạm mục đích sử dụng. Cambridge Analytica chối hết những cáo buộc này. Nhưng còn bao nhiêu người khác được FB cấp quyền thu hoạch dữ liệu như vậy hoặc nhiều hơn vậy. Và đây mới chỉ là những “người ngoài” của Facebook. Tự bảo vệ mình đang ngày càng trở nên một nhiệm vụ bất khả.

Thứ Tư, 5 tháng 7, 2017

Về Chàng trai năm cũ_ Last year's man


Bản dịch và bài hát ở đây.


Hẳn sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau về những hình ảnh và câu chữ kỳ lạ này. Hẳn sẽ có những câu hỏi mãi lởn vởn trong đầu người yêu nó. Nhưng điều đó không ngăn cản chất nhạc chất thơ đi vào lòng người qua làn sương khói bảng lảng huyền bí nhưng lạ thay có gì đó chân thực không hề ảo mị. Ngược lại, nó, những câu hỏi lởn vởn đó là cần thiết bởi sự quyến rũ của cái đẹp và sự thật thường nằm ở miền vô định hơn là vài lời xác quyết. (Đó tiếc thay lại là 1 lời xác quyết)

Nghĩa là những cố gắng giải nghĩa bài này như dưới đây ko chỉ có nguy cơ bày ra một cách hiểu sai lầm mà tệ hơn, còn làm mất cái hay cái đẹp đi như xua đi đám sương mù khỏi bức tranh phong cảnh đang hoàn hảo. Hãy xem đây là những chú giải đọc qua cho vui, chứ đừng bỏ đi những câu hỏi và trả lời của chính mình.


Khổ 1:
The rain falls down on last year's man
That's a jew's harp on the table
That's a crayon in his hand
And the corners of the blueprint are ruined since they rolled
Far past the stems of thumbtacks
That still throw shadows on the wood
And the skylight is like skin for a drum I'll never mend
And all the rain falls down amen
On the works of last year's man

Cơn mưa trút xuống chàng trai năm cũ
Kìa là cái khèn môi trên bàn
Kia, mẩu phấn màu trong tay anh 
Và bản phác họa rách sờn đi mấy góc vì chúng cuộn
Quá khỏi hàng đinh mũ chân tăm
Hãy còn ghim bóng mình lên bảng gỗ
Và mái trời giống như da của cái trống mà tôi không vá
Và mưa vẫn mưa rơi, xin dạ,
Trên công trình chàng trai năm qua.


6 câu đầu vẽ ra một khung cảnh một căn phòng và một nhân vật kỳ lạ: chàng trai năm cũ. Cú máy lướt từ người đàn ông này đến những món vật trong phòng_ khèn môi, mẩu phấn màu trong tay, bản phác họa, đinh ghim trên bảng_ với một không khí trầm lắng, sầu thảm và quái lạ. Tất cả đều bất động, chỉ có mưa là động, nhưng cả mưa cũng dường như cũng không có âm thanh.

Khung cảnh cho ta đoán đây là một người làm công việc sáng tạo, một nghệ sỹ đang trong xưởng của mình. Và mưa rơi lên mọi thứ, lên người chàng trai năm cũ và lên bao công trình của anh.

3 câu tiếp theo:

And the skylight is like skin for a drum I'll never mend
And all the rain falls down amen
On the works of last year's man

Sau khi quét quanh phòng, máy quay giờ hướng lên phía trên, nơi từ đó mưa tuôn xuống. “Và mái trời giống như da của cái trống mà tôi không vá”. Cảm giác quái lạ không giảm đi mà càng tăng lên, căng lên. Skylight là cửa sổ ở mái nhà hoặc tường ngoài để lấy ánh sáng trời. Nhưng “giống như da”, “cái trống”, “tôi không vá” là sao? Ba câu này hát lên nghe như rất có ý nghĩa mà cũng rất mù mịt.



Cho đến khi tôi nhìn thấy ảnh một skylight như thế này, mái trời hình tròn như một mặt trống. Căn phòng_ bốn bề kín bưng như thân trống, mái trời ở đỉnh như mặt trống_ gợi lên một chốn thờ phụng và tôn nghiêm. Ở đó, người bên trong đối diện chỉ với mênh mông cõi lòng và thăm thẳm trời cao. Tất cả những thứ còn lại đều thinh bặt vô ảnh . Căn phòng này, chốn thờ phụng này chẳng phải chính xác là miền sáng tác, là hai chiều kích ý nghĩa nhất đối với con người L.Cohen ư?

Xuất hiện nhân vật “tôi”, người thứ hai trong phòng. Cả khổ thơ dù nói đến chàng trai năm cũ nhưng lại dùng thì hiện tại, còn nhân vật ‘tôi’ thì dùng thì tương lai (tôi sẽ không vá). Có thể hiểu vào lúc này đây, trong căn phòng ấy, L.Cohen đang chứng kiến chàng L.Cohen năm cũ bằng xương bằng thịt ngay trước mặt.

Và mưa vẫn mưa rơi, xin dạ, trên công trình chàng trai năm qua. Tại sao lại amen? Khi nhận ra ý nghĩa của căn phòng cũng là lúc bắt đầu có manh mối để hiểu amen. Từ này đi đến đâu trước giờ chỉ phiên âm hoặc giữ nguyên chưa bao giờ cần dịch. Nhưng để hiểu rõ ý L.Cohen, tránh nó thành sáo ngữ cửa miệng hoặc, đối với những người không cùng đạo Chúa, thành một lời vô nghĩa, thì cần thiết phải tìm trở lại nghĩa ban đầu của nó: dạ vâng, xin hãy là như vậy. (Dĩ nhiên một lý do quan trọng nữa là dịch cho nó nghe đỡ lạc vần. :D )


Khổ 2:
I met a lady, she was playing with her soldiers in the dark
Oh one by one she had to tell them
That her name was Joan of Arc
I was in that army, yes I stayed a little while;
I want to thank you, Joan of Arc
For treating me so well
And though I wear a uniform I was not born to fight;
All these wounded boys you lie beside
Goodnight, my friends, goodnight

Tôi gặp một cô, trong bóng đêm nàng đang đùa với lính
Ôi với mỗi anh nàng rồi phải nói rằng
Tên của em: nàng Joan xứ Arc.
Tôi từng ở trong đám ấy, vâng chính tôi một dạo
Tôi muốn tạ ơn em, Joan xứ Arc
Cái ân hảo đãi.
Và dù khoác áo nhà binh, tôi sinh ra phải đâu làm lính
Hỡi những chàng trai thương tích em nằm cạnh bên
Chào nhé, bạn ơi, xin chào.

Joan xứ Arc (tiếng Pháp Jeanne’Arc, tiếng Việt: thánh Giăng-đa) là một cô gái trẻ từng lãnh đạo binh sỹ chiến đấu oanh liệt cho nước Pháp, sau bị giám mục Anh kết tội chết thiêu trên giàn hỏa lúc mới 19 tuổi. Nàng về sau được giáo hội La mã phong thánh. Joan of Arc là một hình ảnh được Leonard Cohen hay dùng và có cả riêng một bài nhạc-thơ rất hay mang tên cô. Người nghe có thể tìm hiểu câu chuyện đời cô để tự rút ra Joan of Arc trong mỗi bài là biểu tượng cho cái gì. Và cả về cuộc đời của L.Cohen nữa. Có người cho rằng Joan xứ Arc ở đây là nói về Nico, một nàng thơ của L.Cohen.

Với tôi, đây là một bài mà L.C viết về sự kết thúc của một chặng đường sáng tác của mình, và nói về một chặng đường mới.

Khổ thơ trên nói đến chặng đường đã qua, có thể hiểu là một giai đoạn mà ông theo đuổi một loại nghệ thuật vị nhân sinh, thứ nghệ thuật mà, như Joan of Arc, giương cao ngọn cờ đấu tranh, kêu gọi người ta cải tạo xã hội dù theo nghĩa dời non lấp bể cải đời hay theo nghĩa phản chiến make love not war. Hẳn L.C cũng từng có thời gian sáng tác với tinh thần nhập thế hướng ngoại như vậy và cũng “được cô hảo đãi”. Nhưng ông “sinh ra phải đâu làm lính”, đó là những lời chân thật của L.Cohen mà đến khi mất 45 năm sau, cuộc đời và sáng tác của ông là bằng chứng.

Những từ ngữ và ám chỉ khó hiểu: lady, được phong thánh, chơi đùa, trong bóng tối, phải nghiêm giọng với từng anh, nằm cạnh bên. Những ám chỉ có chiều lơi lả kia như khơi mời những dấu hỏi lẩn quất bên dưới cái vỏ thanh cao. Vd như, những chàng trai thương tích em đến nằm cạnh bên phải hiểu thế nào? Nếu hiểu đây là một bài L.C. nói về sáng tác nghệ thuật, thì không phải đó là một hình ảnh rất đắt và gợi, rằng cái duyên sáng tác thường chỉ đến ăn nằm với những tâm hồn nghệ sỹ đang bị tổn thương hay sao?  Nếu ‘nằm cạnh bên’ hiểu như trên, thì “đang đùa trong bóng tối” có nghĩa là gì? Với từng anh đó nàng phải xưng tên nghĩa là sao? Người ta có thể mê thích nhạc L.C. ngay từ đầu nhưng lâu lâu mới vỡ ra một câu trả lời, hoặc đặt một câu hỏi mới trước giờ chưa bao giờ thắc mắc, rồi trong quá trình đó, nếu may mắn, bỗng thấy ra một chiều kích ý nghĩa mới mà câu chữ, hình ảnh hiện ra rất đắt, rất đẹp. Đó là những lúc thật tuyệt. Nếu bài thơ-nhạc này còn nói về một chủ đề gì khác, về Nico chẳng hạn, thì tôi nghĩ đây là khổ thơ có cơ duyên nhiều nhất để lộ ra manh mối đó.

Nói đến “để lộ”, hãy nghe khổ 3

I came upon a wedding that old families had contrived;
Bethlehem the bridegroom
Babylon the bride
Great Babylon was naked, oh she stood there trembling for me
And Bethlehem inflamed us both
Like the shy one at some orgy
And when we fell together all our flesh was like a veil
That I had to draw aside to see
The serpent eats its tail

Tôi lọt vào một đám gả hai họ lâu đời khéo khép duyên
Bethlehem là chàng rể
Babylon nàng dâu
Babylon chẳng áo xiêm,ôi nàng đứng đấy run rẩy vì tôi
Còn Bethlehem làm hai chúng tôi bốc hỏa
Như gã thẹn thùng trong một đám truy hoan
Rồi khi ngã vào nhau, xác thịt ấy ôi tấm nhiễu đào
Khiến tôi phải vén lên rồi nhận thấy
Con rắn nào đang tự nuốt đuôi kia.

Chú ý cách dùng từ của L.Cohen. Không biết tôi đã phá hỏng bao nhiêu trong khi dịch càn bài này, nhưng tôi nhìn lời thơ của ông như nhìn một cánh đồng xanh tươi bên dưới đầy mìn và cố dặn mình bước càng dè dặt càng tốt.

Come upon: chứ không phải go to, come to, đi tới.  Nó đồng thời mang nghĩa chủ động: tôi đi, lại để ngỏ cho khả năng mang nghĩa thụ động: một chuyện xảy tới với tôi.
Contrive : không phải là mai mối đơn thuần như ghép duyên, mà còn mang cái ý mưu toan, sắp đặt, nhưng chỉ mềm mỏng thôi chứ cũng không phải là ép duyên. Nên, khép duyên.
Inflame : không phải enrage, angry. Nó vừa có nghĩa là người ta tức giận nổi đóa, vừa có nghĩa đốt cháy lên, khiêu khích.
Veil – draw aside: tấm mạng che mặt- vén mạng lên.

Cũng như Joan xứ Arc, Bethlehem và Babylon là tên 2 thành phố và do đó có thể biểu tượng cho rất nhiều thứ khác nhau tùy người hiểu. Theo cách hiểu ở đây, Bethlehem_ thành phố nơi Jesus chào đời_ tượng trưng cho tôn giáo, đạo đức. Babylon tượng trưng cho thế tục, lạc thú. Sự sống chung hài hòa giữa 2 khía cạnh đời sống này chẳng phải là điều từ bao đời nay con người trần tục vẫn cố sao? Nhưng sự kết hợp đó ko phải là trò chơi giữa những khái niệm trừu tường lý thuyết với nhau. Nó không thể thiếu chủ thể “tôi” (nghĩa chung).  Cái tưởng chừng là một đám gả giữa Bethlehem và Babylon thật ra phải là một đám thác loạn tay ba có tôi trong đó. Tôi đến với đám gả này mà chính nó cũng đang đợi tôi. Có người vào tuổi dậy thì, có người phải một ngày nắng xế bên đồi, có người đi tìm, có người không tìm mà một ngày bỗng thấy mình lọt vào cái đám đó.

Chú ý miêu tả các nhân vật rất đặc sắc: Babylon trần truồng, run rẩy vì tôi. Bethlehem đạo mạo e dè. Bethlehem làm chúng tôi bốc hỏa theo nghĩa nào_ giận dữ hay khiêu khích? Hãy dừng lại nghĩ về nó một chút vì đây là một chỗ rất hay. Ngay khi mình tưởng đã giải mã được nó, đã nhìn rõ vạt cỏ xanh, cũng là lúc nguy cơ dẫm phải mìn cao nhất. :-p

Trong cuộc truy hoan tay ba này, tôi (nghĩa L.Cohen) thấy những cảm xúc lạc thú như một tấm màn che mất điều gì chân thật, khiến ông phải dứt ra để vén màn lên. Câu này gợi nhớ tới bức màn vô minh của dòng sông cảm xúc trong đạo Phật. Gần hơn, tấm màn-mạng che mặt là liên hệ rõ ràng đến Revelation (Sự Vén màn lên)_ một cách diễn đạt trong đạo Chúa, đạo Hồi và đạo Do Thái rằng Chúa trời đôi khi hé lộ Sự Thật bằng cách vén bức màn che phủ mọi thứ lên.

Con rắn tự nuốt đuôi: hình vòng tròn, quay lại từ đầu, vô thủy vô chung. Hình tượng cổ xưa con rắn (vườn địa đàng, Adam & Eva) cho ta thấy old families (hai họ lâu đời) ở đây là lâu tới cỡ nào, và cái đám gả này đã được sắp đặt từ bao lâu.

Dùng những hình ảnh như cô dâu động tình, orgy (đám truy hoan thác loạn, tình dục tập thể) giữa bức tranh đầy hình ảnh tôn giáo từ Thánh kinh mà lại đắt và đẹp;   chạm đến chỗ đại đồng tinh yếu của 4 tôn giáo lớn đầy tranh cãi chỉ bằng vài câu ngắn ngủi, đó thực sự là màn trình diễn tối giản bậc thầy. Tối giản hơn nữa chắc chỉ còn niêm hoa vi tiếu. :D

Khổ 4:
Some women wait for Jesus, and some women wait for Cain
So I hang upon my altar
And I hoist my axe again
And I take the one who finds me back to where it all began
When Jesus was the honeymoon
And Cain was just the man
And we read from pleasant Bibles that are bound in blood and skin
That the wilderness is gathering
All its children back again

Có người chờ đợi Giê-su, người thì nơi Cain ngóng vọng
Nên ta hương khói tế đàn này
Và ta giương cao thanh đồ đao
Và ta dắt ai tìm được đến đây, trở lại chốn xưa nơi mọi sự khởi đầu
Khi Giê-su là kỳ trăng mật
Còn Cain, chỉ một chàng trai
Và ta cùng đọc những Thánh kinh tươi sáng, được kết buộc bằng máu và da
Rằng mẹ hồng hoang đang hú gọi
Các con bà quay bước trở về thôi.

Cain: người con trai trưởng của Adam và Eva.
Altar: đàn tế dùng để dâng cúng, hiến tế.  My altar: xưởng sáng tạo của người nghệ sỹ này cũng đồng thời là một chốn hiến tế.
Hoist my axe: giương rìu lên, gợi ý đến máu, đến sự hy sinh (sacrifice) trong hiến tế.  Có version đề là “voice my acts”_ một tuyên ngôn rõ ràng hơn. Trong tiếng Việt, thanh đồ đao cũng gợi ý đến máu.
Pleasant Bibles that are bound in blood and skin:  sự mỉa mai phản tỉnh không bao giờ rời bỏ L.Cohen để mặc ông với mỗi lòng yêu kính thuần thành.

Jesus-Cain lại hai cái tên, hai biểu tượng. Câu đầu thường khiến tôi nhớ tới Trịnh Công Sơn: “người vinh quang mơ ước địa đàng, người gian nan mơ ước bình thường”. TCS đặt câu hỏi trong khung cảnh xã hội và chỉ ra “làm sao đến gần hy vọng cuộc vui chung?”. L.Cohen quan tâm đến hành trình cá nhân. Ta ở đây phụng sự tế đàn này, và hãy đến đây rồi đi với ta trên một hành trình.

Đoạn tiếp theo là một tuyên ngôn sáng tác của L.Cohen, là hành trình ông dẫn ta đi. Và nó chỉ dành cho những người “ai tìm thấy ta”.

Trở lại chốn xưa nơi mọi sự khởi đầu = con rắn tự cắn đuôi. Hay là, sáng tác của ông, hành trình ông nguyện dắt ta đi không gì khác hơn cái sự thật mà ông nhận thấy đằng sau tấm màn.


Nói đến trở lại chốn xưa, hãy nghe Khổ 5:

The rain falls down on last year's man
An hour has gone by
And he has not moved his hand
But everything will happen if he only gives the word;
The lovers will rise up
And the mountains touch the ground
But the skylight is like skin for a drum I'll never mend
And all the rain falls down amen
On the works of last year's man

Cơn mưa trút xuống chàng trai năm cũ
Một giờ đã trôi qua
Mà anh vẫn dường tượng đá
Nhưng mọi điều sẽ xảy ra chỉ cần một lời anh nói
Những tình nhân sẽ trỗi dậy
Và núi non chạm tới móng nền
Nhưng mái trời giống như da của cái trống mà tôi không vá
Và mưa vẫn mưa rơi, xin dạ,
Trên công trình chàng trai năm qua.

Trở lại căn phòng. Chàng trai năm cũ vẫn ngồi đó, mưa vẫn rơi. Nhưng nếu khổ đầu như một một bức tranh tĩnh vật, một đoạn phim câm lặng u buồn thì khổ này như một đoạn phim fantasy vào cái phút im ắng cuối cùng ngay trước khi phép mầu hiện ra đầy mê hoặc.

Núi non ko vươn lên chạm đến trời cao mà chạm đến móng nền, tình nhân trỗi dậy: những hình ảnh đầy mê hoặc, như pháp thuật.

Chàng trai Cohen năm cũ, người nghệ sỹ năm cũ ấy cũng là một đấng sáng tạo_ the creator. Chỉ cần một từ, một điệu khèn, một nét phấn màu của người nghệ sỹ là những phép mầu diệu kỳ sẽ hiện ra. Chỉ một lời anh nói.

Nhưng anh ngồi đó, không nói, để mặc mưa rơi trên người anh và trên bao công trình của anh. Và chàng trai Cohen hôm nay cũng ngồi đó. “Nhưng mái trời giống như da của cái trống mà tôi không vá”.  Chú ý sự thay đổi nhỏ trong cách hát, nó không còn là sự mô tả như khổ đầu mà là một lời trần tình đầy cảm thương của L.Cohen hôm nay với L.Cohen năm cũ. Không ai xử lý lời nhạc của ông hay hơn ông, ngay cả khi giọng ông đã khản đặc sau này. Ông tiếc lắm chặng đường đã qua, tội lắm thương lắm con người của ngày hôm qua. Nhưng “tôi sẽ không vá”. Nhưng trời cứ hãy mưa, tôi xin tuân dạ, amen. Đấy là ý trời hay ý người?  Làm sao biết được khi ta ngồi ở trong căn phòng cái trống ấy. Phải chi anh ấy nói chỉ một lời.

Bài hát mở đầu bằng một khổ mưa rơi. Đến cuối bài, L.Cohen đưa ta đến với một khổ mưa rơi nữa: ta dắt ai  tìm đến với ta trở lại chốn xưa nơi bài hát khởi đầu. Trong từng khổ này, mưa xuất hiện ở câu đầu tiên và đến câu cuối cùng thì cũng quay trở lại. “Con rắn tự cắn đuôi” không chỉ ở trong nghĩa ẩn dụ mà còn ở trong hình thức. Chưa hết, về mặt hình ảnh, sau khi máy quay hướng lên mái trời xong thì cũng theo cơn mưa quay trở lại nơi nó bắt đầu: chàng trai & những công trình của anh. Bao nhiêu là sắp đặt công phu, bao nhiêu là tâm sức bỏ vào một lời anh nói, nhưng mà hiện ra cứ nhẹ nhàng như không có gì.

Mưa: nước từ trời. Trong sự xóa sạch phũ phàng của nước mưa có chăng nước mắt thương tiếc của trời? Hay đó là nước thánh chúa rắc ban lên thân xác một người đã dừng lại trong dĩ vãng?

Có thật sự đó là nước thánh từ chúa trên trời? Hay từ đấng sáng tạo đang ngồi ở ngay đây? Ai làm ra mưa?

Bài hát là một lời tiễn biệt đầy yêu thương và cảm thông của một người tài hoa hát lên chôn cất con người tài hoa-chính mình của ngày hôm qua.

Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

Chàng trai năm cũ _ Last year's man

Leonard Cohen _ 'Songs of Love and Hate' , 1971

Last year's man  - - Chàng trai năm cũ  

The rain falls down on last year's man
That's a jew's harp on the table
That's a crayon in his hand
And the corners of the blueprint are ruined since they rolled
Far past the stems of thumbtacks
That still throw shadows on the wood
And the skylight is like skin for a drum I'll never mend
And all the rain falls down amen
On the works of last year's man

Cơn mưa trút xuống chàng trai năm cũ
Kìa là cái khèn môi trên bàn
Kia, mẩu phấn màu trong tay anh
Và bản phác họa rách sờn đi mấy góc vì chúng cuộn
Quá khỏi hàng đinh mũ chân tăm
Hãy còn ghim bóng mình lên bảng gỗ
Và mái trời giống như da của cái trống mà tôi không vá
Và mưa vẫn mưa rơi, xin dạ,
Trên công trình chàng trai năm qua.


I met a lady, she was playing with her soldiers in the dark
Oh one by one she had to tell them
That her name was Joan of Arc
I was in that army, yes I stayed a little while;
I want to thank you, Joan of Arc
For treating me so well
And though I wear a uniform I was not born to fight;
All these wounded boys you lie beside
Goodnight, my friends, goodnight

Tôi gặp một cô, trong bóng đêm nàng đang đùa với lính
Ôi với từng anh nàng rồi phải nói rằng
Tên của em: nàng Joan xứ Arc.
Tôi từng ở trong đám ấy, vâng chính tôi một dạo
Tôi muốn tạ ơn em, Joan xứ Arc
Cái ân hảo đãi.
Và dù khoác áo nhà binh, tôi sinh ra phải đâu làm lính
Hỡi những chàng trai thương tích em nằm cạnh bên
Chào nhé, bạn ơi, xin chào.


I came upon a wedding that old families had contrived;
Bethlehem the bridegroom
Babylon the bride
Great Babylon was naked, oh she stood there trembling for me
And Bethlehem inflamed us both
Like the shy one at some orgy
And when we fell together all our flesh was like a veil
That I had to draw aside to see
The serpent eat its tail

Tôi lọt vào một đám gả hai họ lâu đời khéo khép duyên
Bethlehem là chàng rể
Babylon nàng dâu
Babylon chẳng áo xiêm,ôi nàng đứng đấy run rẩy vì tôi
Còn Bethlehem làm hai chúng tôi bốc hỏa
Như gã thẹn thùng trong một đám truy hoan
Rồi khi ngã cả vào nhau, xác thịt ấy ôi tấm nhiễu đào
Khiến tôi phải vén lên rồi nhận thấy
Con rắn nào đang tự nuốt đuôi kia.

Some women wait for Jesus, and some women wait for Cain
So I hang upon my altar
And I hoist my axe again
And I take the one who finds me back to where it all began
When Jesus was the honeymoon
And Cain was just the man
And we read from pleasant Bibles that are bound in blood and skin
That the wilderness is gathering
All its children back again

Có người chờ đợi Giê-su, người thì nơi Cain ngóng vọng
Nên ta hương khói tế đàn này
Và ta giương cao thanh đồ đao
Và ta dắt ai tìm được đến đây, trở lại chốn xưa nơi mọi sự khởi đầu
Khi Giê-su là kỳ trăng mật
Còn Cain, chỉ một chàng trai
Và ta cùng đọc những Thánh kinh tươi sáng, được kết buộc bằng máu và da
Rằng mẹ hồng hoang đang hú gọi
Các con bà quay bước trở về thôi.


The rain falls down on last year's man
An hour has gone by
And he has not moved his hand
But everything will happen if he only gives the word;
The lovers will rise up
And the mountains touch the ground
But the skylight is like skin for a drum I'll never mend
And all the rain falls down amen
On the works of last year's man
 
Cơn mưa trút xuống chàng trai năm cũ
Một giờ đã trôi qua
Mà anh vẫn dường tượng đá
Nhưng mọi điều sẽ xảy ra chỉ cần một lời anh nói
Những tình nhân sẽ trỗi dậy
Và núi non chạm tới móng nền
Nhưng mái trời giống như da của cái trống mà tôi không vá
Và mưa vẫn mưa rơi, xin dạ,
Trên công trình chàng trai năm qua.



(Tháng 06/2017)







Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Sun path tool- Đường đi biểu kiến của mặt trời


Ai cũng biết, mặt trời mọc lên từ đằng Đông và lặn ở đằng Tây. Tuy nhiên đường đi của mặt trời không bao giờ cố định theo một cung tròn trên trời mà thay đổi theo ngày trong năm. Thời gian trời sáng cũng luôn thay đổi_ dài nhất vào ngày hạ chí và ngắn nhất vào ngày đông chí.

Hiểu biết về đường đi và nguồn năng lượng ánh sáng từ mặt trời có nhiều ý nghĩa quan trọng.

Trong permaculture (tạm dịch nền văn minh thuận tự nhiên), nó được xếp vào "sector". Hiểu biết về đường đi của mặt trời giúp cho việc thiết kế công trình-cảnh quan từ thấp đến cao phù hợp, nhằm giữ ấm hoặc làm mát như mong muốn và nhằm tối đa hóa khả năng thu hoạch ánh sáng bằng cây cối hoặc bằng panel năng lượng mặt trời.

Trong tư duy thiết kế của Christopher Alexander, nó được xếp vào pattern_ loại pattern hiện tượng. Hãy tưởng tượng một căn phòng có ánh nắng.  Có thể là vệt nắng ấy, trên sàn hay hắt lên tường, rọi trực tiếp hay xuyên qua kẽ lá, luôn từng giây, từng phút, từng ngày biến đổi, không ngừng chạm đến một mảnh bề mặt khác nhau, một cách chầm chậm, âm thầm. Cùng với năm tháng, pattern của bóng nắng ấy là một phần của cá tính căn phòng, hơn nữa, nó gắn bó hữu cơ vào đời sống tâm hồn của người trong phòng.

Do đó hãy cố gắng tìm trong ký ức của mình một căn phòng có ánh sáng đẹp, ai cũng làm được điều này, rồi trong chừng mực có thể, hãy tái tạo pattern ánh sáng đẹp trong căn phòng mà bạn thiết kế.

Almost everyone has some experience of a room filled with light, sun streaming in, perhaps yellow curtains, white wood, patches of sunlight on the floor, which the cat searches for — soft cushions where the light is, a garden full of flowers to look out onto. 

If you search your own experience, you can certainly remember a place like this — so beautiful it takes your breath away to think of it.  _ Timeless way of building

Để biểu đạt đường đi của mặt trời, người ta dùng Sun path diagram (biểu đồ đường mặt trời). Vd như thế này. Ở trang web này có hướng dẫn cách đọc nó.




Nhưng giờ có nhiều tool hấp dẫn hơn.  Vd ở trang SunCalc.net. Nhập ngày và địa điểm là ta có thể biết góc mặt trời bất cứ giờ nào trong ngày.



Cái tool tôi thích nhất là phiên bản 3D ở trang  AndrewMarsh.com. Thay vì phải gõ ngày vào, người ta chỉ cần kéo rê điểm khảo sát màu đỏ theo chiều ngang để đi suốt năm, và theo chiều thẳng đứng để đi suốt ngày. Bằng cách này có thể dễ dàng đi tới được ngày Đông chí và Hạ chí_ hai ngày biên của đường đi mặt trời_ để khảo sát các góc nắng và lập thiết kế tương ứng.

Bóng nắng chiều lúc 14:03 ngày 23/05/2017 tại địa điểm khảo sát.  Cung màu đỏ gần với cung ngày Hạ chí phía mép trên_ ứng với ngày 21/06/2017







Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

Một địa chỉ kiến trúc đáng tham quan ở Đà Nẵng



Quận Hải Châu nằm ở lõi trung tâm Đà Nẵng có nhiều công trình kiến trúc thú vị từ di tích thành cổ cho đến những công trình cao tầng hiện đại nhất. Nếu bạn quan tâm đến thứ kiến trúc hài hòa (*) với con người và môi trường xung quanh sâu sắc thì đừng bỏ qua địa chỉ số 46, 48 đường Nguyễn Chí Thanh.

Trước nhà 46 có một cái cổng vảo đơn giản. Hai cột đá ở hai bên. Một bộ cổng sắt không có gì đặc biệt ở giữa. Phía trên là 1 vòm cong khung sắt vắt giữa hai cột đá, dây leo quấn đầy. Một lối bố trí đơn giản, phổ biến nhưng nó gây một cảm giác nhẹ nhàng dễ chịu. Cảm xúc đặc biệt đến từ độ sống động của hai cột đá hai bên. Chúng to, dầy, xây lên từ việc sắp những viên đá thô, tô trét vữa sơ sài, kết thúc bằng một viền mép trên đỉnh cột.

Cột đá cổng nhà 46

Chỉ có vậy. Nó không có gì nhiều để mà gọi là thiết kế và bản thân nó đứng một mình chẳng đáng để đến thăm. Thế nhưng điều rất thú ví là ngay sát bên cạnh nó, ở căn nhà 48 cũng có một cái cổng tương tự.

Hai cột đá ở nhà 48 có nhiều điểm giống như nhà 46. Cũng chính xác từ kích cỡ thân cột cho đến viền mép đỉnh đó, cũng xây từ những viên đá kích cỡ tương đương xếp nên. Thậm chí nó cũng là cổng sắt, vòm dây leo xanh phía trên. Nhưng mặc dù trông ổn hơn phần lớn những cái khác, nó lại lu mờ, nhạt nhoà hơn rất nhiều so với cái bên nhà 46, ko phải về màu sắc mà về độ sống động, có "hồn", "cá tính". Chúng hẳn hoàn toàn gần như nhau nếu nằm trên bản vẽ. Thế thì tại sao, cái gì làm chúng khác nhau đến thế?
Cột đá cổng nhà 48

Nhìn qua ảnh ở đây, có lẽ bạn đã có câu trả lời. Nhưng cái điểm khác biệt rút ra từ ảnh chỉ là tiểu tiết, ý phụ, một bài học rút tỉa bên lề. Địa chỉ này vẫn đáng phải đến thăm vì hai lý do chính rất có ý nghĩa mà nếu chỉ nhìn trên mạng sẽ không thay thế được.

Thứ nhất là để đứng gần chúng, đi qua đi lại giữa hai cổng nhà này và tự trải nghiệm cảm giác nó mang lại_ nó thật hay không, nó mạnh yếu thế nào. Chúng ở ngay cạnh nhau, khung cảnh đường phố như nhau, ánh sáng như nhau_ sự quan sát ko bị chi phối vì lý do gián đoạn thời gian hay không gian hay tâm trạng biến đổi của người quan sát. Không dễ có được một đối tượng nghiên cứu vừa ở mức hình học cơ bản, vừa có các điều kiện so sánh lý tưởng như vậy, ngay trong môi trường thực.

Thứ hai là để thoải mái soi từng chi tiết, từng yếu tố khả dĩ tạo ra khác biệt và thử đặt cho mình câu hỏi, nếu là người thiết kế thì có cách chi mà từ bản vẽ và bảng mô tả vật liệu, ta tạo ra được cột ở cổng nhà 46 chứ không phải 48 hay không. Cái cảm giác lúc vẽ bức tường trên giấy có không, nếu có thì nó có giống loại cảm giác khi đứng đó không?  Loại cảm xúc của một bản vẽ biểu cảm có giúp ích gì cho việc tạo ra loại cảm xúc mà vật thể xây dựng sau cùng mang lại không? Làm sao rút ra được bài học này và áp dụng cho những thứ khác chứ không chỉ là một chi tiết đơn giản và tầm thường như cây cột đá này?

Đó là một vấn đề kiến trúc thực sự thâm trầm dù rất nhiều KTS thời hiện đại ko thấy đó là vấn đề của ngành mình hoặc đáng ưu tiên cho sự nghiệp của mình. Nhưng không phải chính nó mới là cái đáng hướng tới hơn thảy đối với chúng ta, những người sống giữa và trong những công trình xây dựng, hay sao?.

---------
(*) hài hòa ở đây không đơn giản nghĩa là các thứ đồ đạc tiệp với nhau, cùng kiểu, trông toát ra chuẩn một phong cách nhất quán như vẫn thường thấy ở các ảnh tạp chí thiết kế. Nó muốn nói đến một cái gì đó như sống động mà chạm đến ta dù chỉ khẽ khàng, nhưng sâu hơn và khiến ta cảm thấy thoải mái với nó, bén rễ quyến luyến cùng năm tháng với nó. Cái cảm xúc Chris đi tìm là cái cảm xúc về nó, mà ông gọi là sự sống hay tính toàn thể

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Bốn bước để có một căn phòng tốt

Mỗi căn phòng đều trải qua 4 giai đoạn khai mở. Buớc đầu tiên liên quan đến vị trí của nó; bước thứ hai những thứ bên trong nó, những trường trung tâm chính; bước thứ ba liên quan đến cấu trúc thứ cấp (những trường trung tâm nhỏ hơn); bước thứ tư đến tính tĩnh tại của nó. Trong một căn phòng tạo ra từ sự khai mở thật sự, bốn bước này mang đến sự sống cho căn phòng.


1. Vị trí căn phòng: trong giai đoạn đầu của thiết kế, căn phòng được hình thành đầu tiên là từ vị trí: thường là tên, kích cỡ, và vị trí ước chừng. Có người cho rằng cứ đặt căn phòng đâu đó cũng được, rồi sau đó sẽ dùng vật liệu, đồ đạc, thảm rèm,v.v.. để thổi hồn vào cho nó sinh động. Một lối tiếp cận sai lầm. Những trường trung tâm mang lại sự sống cho căn phòng là những thứ nằm ngoài cái phòng. Trên thảy tất cả, căn phòng được phát cho sự sống là tự vị trí của nó ở đâu trong dòng di chuyển của con người, từ ánh sáng tự nhiên trong phòng, từ mối tương quan của nó với cái thế giới bên ngoài cửa sổ_ đó là ba thứ chính yếu nhất. Những thứ này chỉ có thể giải quyết ngay từ khâu sắp xếp đầu tiên chứ ko phải sau này.

Nếu áp dụng quy trình cơ bản, mỗi phòng sẽ được chọn/sắp xếp để chính nó trở thành một trường trung tâm_ điều đó đòi hỏi nó phải chiếm một vị trí nhất định trong dòng di chuyển và có một chất lượng ánh sáng tự nhiên nhất định. Và khi thực hiện quy trình này cho toàn bộ tất cả các căn phòng, nó chi phối mạnh mẽ đến đường biên của khối nhà. Những mối tương quan giữa căn phòng với thế giới bên ngoài bốn bức tường này có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự thành công hay thất bại của căn phòng.


2. Những trường trung tâm của căn phòng: giờ đến bước bố trí và tạo ra những trường trung tâm trong phòng. Đây là bước tinh tế nhất và cũng cực khó, bởi những trường trung tâm định tính căn phòng, mà mình phải tạo ra, thường là vô hình. Loại không gian “căn phòng” có đặc điểm là các trường trung tâm của nó hầu như luôn là những mẩu không gian (rỗng) hơn là những cấu trúc vật thể (đặc). Ở mỗi căn phòng, mình phải tìm ra những vùng thiết yếu, rồi cùng với sự kết hợp giữa dòng di chuyển và ánh sáng, biến vùng đó trở nên một trường trung tâm có sức sống.
Thường trong một căn phòng, những trường trung tâm được xác định bởi hai yếu tố: (1) nó là một vùng đọng bên dòng chảy di chuyển và (2) nó gần ánh sáng. Căn phóng có trường trung tâm tốt khi mà tạo được một chỗ có đồng thời cả hai đặc điểm đó, rồi lại còn được làm mạnh mẽ giàu sức sống hơn bằng quy trình cơ bản để phát triển khai mở với những thành tố bục cửa sổ, trần nhà, đồ gỗ, điểm nhấn, v.v...


3. Cấu trúc thứ cấp: những cấu trúc thứ cấp_ những thứ được xây, những cấu trúc vật chất, hình học, cần phải ăn rơ với nhau, và chúng quyết định sự liền mạch và cảm xúc của căn phòng. Điều này nghe có vẻ hiển nhiên và từng là một phần cốt lõi của bất cứ nền kiến trúc truyền thống nào, vậy mà thật đáng ngạc nhiên cách mà nó hầu như biến mất và quên lãng trong các công trình kiến trúc thế kỷ 20.
Một lần nữa, ở đây quy trinh cơ bản sẽ giúp ích rất nhiều. Bằng cách lặp lại quy trình cơ bản để khai mở từng bước, mỗi bước làm một thứ hướng đến gần hơn cái hình thù và ý tưởng căn phòng đang dần có hình hài trong đầu bạn. Lắng nghe nó, quan tâm đến tính toàn thể nhưng đừng bận tâm nhiều đến mặt bằng / bản vẽ tổng thể.
Chúng ta hãy đi vào cụ thể. Hãy giả sử bạn đã đến chỗ đất định xây, xác định vị trí tốt nhất để đặt một phòng quan trọng. Bạn đã đứng ở chỗ đó, hài lòng là “từ bên trong nhìn ra”, nó đúng là một chỗ đẹp, có tương quan tốt với không gian và địa hình bên ngoài. Dùng quy trình cơ bản, bạn đi bước tiếp theo bằng cách tôn tạo trường trung tâm mà ta đã định trong đầu này. Dĩ nhiên bạn muốn ánh sáng trong phòng đẹp. Do đó ta phải chừa một vùng quang đãng phía ngoài rìa phòng để cho ánh sáng đi vào được đẹp_ ta phải làm cửa sổ đẹp. Tự nhiên, căn phòng giờ đây đã có được những nét rõ rệt hơn hẳn trong thiết kế đang thành hình. Nó “nổi bật”, nó có phần tường bao sáng tỏ và nó bắt đầu góp phần định hình phần căn nhà xung quanh phòng này.


4. Tĩnh tại: yên tĩnh, lắng đọng, an bình, vui tươi, giản dị. Sau những bước khai mở, phân hóa, thêm thắt là bước dẹp bỏ những gì rườm rà và chỉ giữ lại những thứ thật sự mang đến cho ta sự thoải mái và tĩnh lặng.

Về nguyên tắc, căn phòng là sự hiển lộ và hóa thiêng của cuộc đời. Nó là cuộc đời của ta hiển bày ra. Bản thân căn phòng, giống như cái nôi hoặc mớ tích góp của một đời sống, về bản chất chính là nơi của thiên vạn hỷ lạc sầu bi, là chỗ chứa đựng cuộc đời bạn và phần đời của con bạn; là phần xác thịt, mang tính trật tự vật lý, của cái mà tâm hồn bạn từng là và đang là.

Có lẽ đó mới là mục đích thật sự của căn phòng. Nó cần phải thoải mái, nhưng là thoải mái thật sự, thoải mái ở tận tầng linh hồn bên trong. Một căn phòng tốt phải tuyệt đối dễ chịu, cả trong tâm hồn lẫn ở sự êm ái của nệm êm, ánh sáng dịu, tiếng chim ca, nước chảy, một nhành dây leo xanh uốn quanh nở trộm một hai bông hoa, vẳng tiếng trẻ thơ nô đùa và người thân yêu cười nói…. Quá nhiều người đã đánh mất đi sự thính nhạy đối với cái thoải mái dễ chịu bình dị này.

Làm sao để tạo được sự tĩnh tại? Nói chung nó đơn giản thôi nhưng đòi hỏi phải tập trung và lắng nghe chính mình. Hãy đứng ở trong căn phòng đó. Tự hỏi mình là ta nên đặt ở kia cái gì_ một loại đá nào đó ở mép trên lò sưởi, một màu tường nào đó, khoét cửa sổ hay cửa ra vào theo hình dáng nào đó , v.v… Với mỗi thứ, ta hỏi, nó có mang lại sự tĩnh tại trong ta nhiều hơn không? Nếu có, giữ thiết kế hay món đồ đó. Nếu không, loại nó đi. Cứ như vậy đối với mọi thứ xung quanh bạn.

Tóm tắt từ  Christopher Alexander, The Nature of Order, Book 3, Chapter 13



"In principle, a room is the sanctification and illumination of a life. It is your life made manifest. The room itself, like a cradle or a gathering together of a life, is, in its essence, the place of thousand joys and sorrows, the receptacle of your life and your children's lives, the embodiment, in physical order, of what yout spirit has been and has become.

That is, perhaps, a true purpose of a room. It is comfort, but true comfort, an inner spiritual comfort. When i describe it as spiritual it sounds ascetic, and too much connected with self-awareness. A good room is utterly comfortable. It is the real comfort, the comfort of the soul: but also the comfort of pillows, soft light, soubds just right for the ear, birds singing.a solitaryvine running up the front door and bearing ine, two, then three blossoms, the comfort of the paint outside on the building, thr feeling of happiness i feel when I come home to the deep reddish rose of my own house, the cages with hamsters stuck all iver the house, and the way my children squeal and play with those cages, the oil paints all over my studio, the voice of my dear wife singing, coming up from the room below. That is real comfort "
_ NOO, p.438, book 3

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Căn nhà gạch men hoa ở thành phố Mexico



Ở trung tâm thủ đô Mexico city, có một ngôi nhà rất đẹp gọi là Ngôi nhà gạch men hoa (Casa de los Azulejos). Được xây từ những năm 1800, tường ngoài căn nhà gần như được phủ hoàn toàn bằng gạch men hoa vẽ tay, với màu xanh lơ chủ đạo. Từ xa, ngôi nhà ánh lên màu xanh lấp lóa.
Khi Chris Alexander đến thành phố, ông quyết định đến thăm căn nhà này. Tại đó ông gặp một bất ngờ lớn. Những viên gạch men ở đây hình vuông to hơn cỡ 20x20cm một chút, chúng đều được vẽ bằng tay và dĩ nhiên là đúc thủ công. Nhưng cách chúng được ốp vào tường thì “thô ẩu” không thể tin được. Chúng được đặt méo mó, đường chỉ không đều, thậm chí mặt gạch còn gồ ghề không phẳng nữa. Theo tiêu chuẩn hiện đại, không ai lại chấp nhận một công trình cẩu thả như thế được.




Thế nhưng Ngôi nhà gạch men hoa được công chúng đánh giá là một trong những căn nhà- palace đẹp nhất của thành phố.

Chúng ta đã quen và thành fan cuồng của sự chuẩn xác trong từng chi tiết của công trình xây dựng. Lót gạch, thời bây giờ, đòi hỏi phải chúng phải thẳng hàng với nhau hoàn hảo, mỗi viên gạch cắt hoàn hảo theo size chuẩn không sai một ly, chúng ốp với nhau hoàn hảo với những đường chỉ mỏng dính thẳng tắp. Thế nhưng, nền gạch hoa của chúng ta trở nên trơ cứng, vô hồn.

Theo Alexander, những quy trình xây dựng của thời đại công nghiệp không chỉ mang tính máy móc, chúng còn tách rời những người xây với cái toàn thể của cái mà họ đang góp phần tạo ra. Mỗi nhóm thợ chuyên biệt đến làm một việc chuyên biệt- một công đoạn rồi đi, phần lớn họ ko thấy được cái toàn thể mà mình làm ra, bị cùm tay không cho ứng biến để qua công việc của họ, lèo lái công trình theo hướng thích ứng với hoàn cảnh hơn, có hồn hơn, và qua đó rút ra được niềm vui từ tay nghề của mình. Alexander cho rằng, nhiều thợ lành nghề đặt niềm tự hào trong tay nghề của mình vào sự hoàn hảo vô nghĩa trong chi tiết là bởi vì sự hiểu biết ý nghĩa thực sự của cái đẹp và cái trật tự toàn thể đã bị mất và không có điều kiện đạt được ở các quy trình máy móc của thế kỷ 20.

Nhưng sự hoàn hảo ở tầm tiểu tiết chỉ là vô nghĩa bởi nó chả liên quan và đóng góp gì đến sự hoàn hảo lớn hơn, ví dụ của cả bức tường. Trái lại, nó làm hỏng quá trình thiết lập trật tự. Quá trình này chỉ có thể đạt được khi mà mối quan tâm một cách sùng kính thái quá đến những chi tiết lặt vặt và máy móc bị dẹp bỏ sang một bên nhường cho cái toàn thể lớn hơn.



Để đạt được tính toàn thể, bạn phải chú tâm đạt đến loại hoàn hảo mà ở đó những thứ không quan trọng thì cứ để sơ sài còn những thứ quan trọng hơn phải được chú tâm nhiều hơn. Kết quả sẽ có vẻ như không đều, không hoàn hảo. Nhưng thực tế, thứ tưởng chừng như là sơ sài thô lậu (Roughness_ 1trong 15 đặc tính của sự sống) bề ngoài kia chính là một thứ hoàn hảo ở tầng trật tự sâu hơn.


Tại sao ở Ngôi nhà gạch men hoa kia, những viên gạch lại thô như vậy, lắp đặt méo mó gồ ghề như vậy? Phải chăng những nghệ nhân người Mexico không biết cách làm chúng chính xác thẳng thớm?  Ông không nghĩ vậy. Ông tin rằng đơn giản là họ hiểu cái gì quan trọng, cái gì không và chỉ chú tâm đến thứ quan trọng_ trong trường hợp này là màu sắc. Vì vậy, khi họ làm bức tường gạch men, họ để tâm đến màu sắc, đến hoa văn, đến cảm giác từng viên gạch mang lại, cái tương quan giữa nó với viên gạch kế bên_ đấy mới là những thứ thật sự quan trọng để tạo nên sự hòa hợp và cảm xúc của cả bức tường.

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2016

Homo Deus : A Brief History of Tomorrow


Vào buổi bình minh của thiên niên kỷ thứ ba, loài người thức dậy, vươn vai nhìn quanh và thấy cuộc sống dễ dàng hơn bao giờ hết. Ba kẻ thù truyền kiếp_ nạn đói, bệnh dịch, chiến tranh_ giờ chỉ còn là những bóng ma nhạt nhòa của ngày hôm qua. Tiến bộ khoa học và công nghệ đã đưa con người lần đầu tiên bỏ qua chúng và vượt lên phía trước với tốc độ ngày càng cao. Cùng lúc đó, chủ nghĩa nhân văn tự do (liberal humanism) sau khi đã đánh bại các hệ tư tưởng hiện đại khác, trở thành ngọn đuốc soi đường duy nhất cho nhân loại tiến lên. Chủ nghĩa nhân văn về cơ bản là hệ tư tưởng đặt con người ở vị trí cao nhất và chỉ có con người với ý chí tự do của mình sẽ có quyền mang đến ý nghĩa cho mọi thứ. Nó thay thế hệ tư tưởng cũ của các độc thần giáo với Chúa ngồi ở cái ngai đó.

Họ sẽ tiến lên đâu trên đôi cánh công nghệ và đôi mắt nhân văn tự do? Yuval Noah Harari chỉ ra ba cái đích lớn con người hiện đại muốn và đang đạt tới: trường sinh bất lão, vui sướng triền miên, “tề thiên đại thánh”. Nhiều người nghĩ đây là mơ tưởng hão huyền và xa vời, nhưng từng phần từng phần những giấc mơ đó đang hiện thực hóa nhanh chóng, chúng ta đang nói xa vời là từng mỗi 10 năm, những gì không thể làm được nghĩa là làm được tầm 20 năm. Hãy cẩn thận với mơ ước của mình, nó có thể biến thành sự thật!

Lịch sử không tiến đều, nó dường như đứng yên rất lâu ở một nhà ga rồi bỗng dưng vụt đến một nhà ga khác. Sau vài trăm năm dưới ánh sáng của chủ nghĩa nhân văn, “con tàu tiến bộ giờ lại một lần nữa rút còi kéo ra khỏi nhà ga_ và đây có lẽ là chuyến tàu cuối cùng rời nhà ga mang tên giống người thông minh (Homo sapiens) . Những ai lỡ mất chuyến tàu này sẽ không có cơ hội lần thứ hai”.

Ai sẽ có cơ hội lên chuyến tàu này? Trước hết, đó là những tín đồ của một tôn giáo xuất hiện gần đây, chủ nghĩa nhân văn kỹ thuật (nhân kỹ? _ techno-humanism), một biến dị của chủ nghĩa nhân văn. Nếu như chặng đường trước đây mục tiêu tiến bộ là để vực những người yếu bệnh, nghèo khó lên mức trung bình, có tác dụng giữ cho xã hội gắn kết, thì con đường phía trước ngày càng chỉ hé ra cho một ít người có điều kiện để nâng cấp từ bình thường lên thành như những vị chúa, những homo deus (thần nhân, tạm dịch ) có năng lực về sức khỏe, tuổi thọ, trí tuệ và cảm xúc vượt ngoài giới hạn con người hữu cơ. Đó có thể bằng biến đổi gien, bằng kết hợp người và các bộ phận sinh học-cơ khí và bằng hàng loạt công nghệ mới của ngành sinh học, nano và máy tính.

Nhưng thậm chí ngay cả những thần nhân đó liệu có bám được lâu trên chuyến tàu này? Một bộ não gắn chip, hay một bộ não biến đổi gien của những thần-nhân kia liệu tranh đua được bao lâu với một bộ não siêu việt nâng cấp không ngừng và ngày càng nhanh của trí thông minh nhân tạo? Sự sống trải qua hơn 4 tỷ năm từ chỉ tiến hóa ở dạng hữu cơ giờ đã có thể nhảy qua hình thái vô cơ, và ở dạng đó nó có khả năng sinh tồn ưu việt hơn hẳn. Dạng sự sống đó đang thai nghén và lớn nhanh dưới sự tiên phong của một nhóm nhỏ người tin một hệ tư tưởng hoàn toàn mới mẻ và theo sau, một cách vô thức và ngây thơ, bởi đám đông hầu hết chúng ta. Hệ tư tưởng đó là chủ nghĩa data (dataism) ở đó data lật đổ con người và chiếm vào vị trí tối thượng họ ngồi mấy trăm năm qua.

Ở chính giờ phút khải hoàn của nó ở đầu thiên niên kỷ thứ ba, chủ nghĩa nhân văn, bằng cách tận tụy đưa con người lên những tầm cao tối thượng, đang đồng thời đào mộ chôn cất loài người. Đa số sẽ nhận ra cái thiên đường mà loài người đang lao tới chính là địa ngục của tuyệt đại đa số giống người thông minh (homo sapiens) hiện nay, những sinh vật rất nhanh chóng trở nên vô dụng, thiểu năng, yếu ớt và thừa thãi. Họ sẽ được đối xử như thế nào, giống loài sẽ tồn tại được bao lâu. Harari nhắc chúng ta nhìn về cách con người đang đối xử với các loài khác, đặc biệt là nhìn vào sự tàn nhẫn cực độ ở ngành chăn nuôi công nghiệp hóa. Phải chăng gần đây người ta quan tâm nhiều hơn đến điểm nhức nhối này bởi vì ngày càng nhiều người lờ mờ hình dung ra những cảnh phim tương tự nhưng với cái twist là con người trong vai sinh vật hạ đẳng hơn?

Ở tuổi 35, nhà sử học người Israel đã gây bất ngờ lớn với thành công vang dội của quyển sách đầu tay Sapiens: A Brief History of Humankind. Rất đáng đọc  ; nếu chỉ được chọn một quyển sách sử để làm tài liệu giảng dạy phổ thông cho toàn thế giới, nó phải nằm trong những quyển đáng cân nhắc nhất. Trong quyển này Harari có nói, rằng lịch sử diễn ra theo những con đường riêng của nó, nhà sử học chỉ có thể nói nó đã diễn ra như thế nào, chứ thật khó nói được tại sao nó diễn ra như vậy. Thường ai chỉ biết một ít về thời đại nào đó thì sẽ rất sẵn sàng lý giải tại sao lúc đó từ lịch sử đi từ A đến B; những người càng biết nhiều hơn về thời đại đó sẽ càng nhận ra con đường từ A đến B không phải đương nhiên thậm chí nhiều khi là con đường đáng lý khó xảy ra hơn. Những người biết tường tận nhất về thời đại đó, không ai khác hơn những người đương thời, thì luôn luôn không biết gì chắc chắn rằng lịch sử sẽ tất yếu rẽ đi hướng nào tiếp. Không có tính tất định (deterministic)_Đó là quy luật sắt của lịch sử.

Do đó tôi bắt đầu đọc quyển 2 này với tâm thế nghi ngại: liệu không phải mâu thuẫn sao khi giờ chính Harari lại đi nói về tương lai, nhất là về tại sao lịch sử sẽ đi từ cái hiện thực 2016 đến cái tương lai đó. Khi gấp trang cuối lại tôi cảm thấy mình bị thuyết phục.

Có hai lý do biện hộ cho hành động của Harari_ một về nội dung, một về ý định. Thứ nhất, là bởi vì lần đầu tiên trong lịch sử loài người toàn thế giới kết nối với nhau thành một cái làng toàn cầu. Quan trọng hơn, cái khối thống nhất này chỉ có duy nhất một bó đuốc dẫn đường là chủ nghĩa nhân văn, mà dựa vào đó các nền tảng giá trị, đạo đức, thiết chế xã hội đương đại được thiết lập. Những tàn dư của các hệ tư tưởng cũ vẫn còn đấy, nhưng từ lâu rồi chúng không còn khả năng đẩy bánh xe lịch sử. Trong vài trăm năm qua, những bộ óc siêu việt nhất của loài người không nghĩ ra được gì hay hơn chủ nghĩa nhân văn. Nó đồng hành với tiến bộ khoa học hiện đại và mang lại ý nghĩa cho mọi thứ trong cuộc sống con người hiện đại. Cho nên, giờ đã có thể xét tương lai một cách hợp lý và tương đối chắc chắn khi ta giả lập bắn đi những mũi tên lịch sử dưới bộ dẫn đường duy nhất hiện có.

Thứ hai, thật ra Harari không hẳn dự đoán về tương lai. Cái hay của Homo deus ở chỗ đây là một quyển sách viêt về tương lai nhưng lại không thực sự có ý định tiên tri nó. Hơn nhiều “nhà tiên tri” ngoài kia, ông rất tỉnh táo nhận ra hạn chế của mình và loài người. Vd như làm sao mà con người homo sapiens có thể hiểu được những con đường mà thần-nhân homo deus sắp xuất hiện sẽ hoạch định? Với một bộ não biến đổi, họ có phổ ý chí, cảm xúc và nhiều trạng thái ý thức mới mẻ ở cái tầm mà chúng ta bất khả tư nghị; cũng giống như làm sao những con dù khôn nhất của loài sói có thể hiểu được ý tưởng binh pháp của Napoleon?. Thay vì đóng vai nhà tiên tri hão, Harari chỉ bày ra ván cờ của 2016, xét tất cả các nước đi có thể có, chỉ ra loài người đều sẽ sớm bị chiếu bí, sẽ game-over như thế nào; rồi mời gọi tất cả chúng ta dừng lại một phút để nghĩ về nó, ngay bây giờ trước khi quá muộn. Ông hy vọng vào hiệu ứng của hệ hỗn loạn bậc 2. (Xem thêm Sapiens, tr.268, 269 về hệ hỗn loạn và nhiệm vụ của sử gia)

Yuval Noah Harari có biệt tài là ông có thể sắp xếp và trình bày mọi thứ một cách thật sáng tỏ mạch lạc, có hệ thống. Những lập luận của ông đều dựa trên kết quả khoa học, với cách phân tích logic, rất tỉnh, không gay gắt nhưng cũng không khoan nhượng, đặc biệt là không thiên vị. Ở quyển 1_ Sapiens: A Brief History of Humankind, ông khiến ta sửng sốt và thú vị bao nhiêu khi hé lộ những mũi tên có khi thâm trầm, tàng ẩn nhưng lại mang tính quyết định nhất của 250,000 năm lịch sử loài người. Ở quyển 2 này, không có nhiều sửng sốt ở đây bởi chúng ta ít nhiều đều lờ mờ nghĩ tới viễn cảnh đen tối phía trước và đều xua nó qua một bên để sống qua ngày hôm nay. Quyển 2 thay cảm giác thú vị bằng lo âu, nhưng bù lại nó đặt lên bàn nhiều vấn đề cấp bách đáng suy nghĩ hơn.

Tôi những mong quyển sách phân tích nhiều hơn đến hai điểm: đạo Phật và CNTB. Nếu chủ nghĩa nhân văn là bộ điều khiển dẫn đường, thì CNTB với cơn nghiện mang tên Tăng trưởng của nó là chính là động cơ đẩy gia tốc của con tàu Hiện Đại. Nếu không làm gì bộ điều khiển được thì có nên làm gì đó với động cơ không? Biết đâu, loài người sẽ học được cách cai nghiện Tăng trưởng, như họ gần đây học được cách kiêng ăn để giữ sức khỏe chính mình. Những hệ tư tưởng phương Đông với đề cao tương quan cân bằng (equilibrium) thay vì cực đoan một chiều, vd như đạo Lão hoặc kinh Dịch, liệu có giá trị gì trong hoàn cảnh mới không? Đặc biệt là đạo Phật. Trong khi chủ nghĩa nhân văn bắt đầu bị lung lay tận nền tảng bởi những phát hiện khoa học mới nhất, có nguy cơ chấm dứt vai trò lịch sử như một Kito giáo của thế kỷ 21, thì đạo Phật lại tiếp tục không mâu thuẫn, thậm chí còn tỏ ra liên quan, với những phát hiện này. Đáng kể nhất là ở kết luận khoa học rằng không có bằng cứ gì ủng hộ thuyết cho rằng tồn tại một cái tôi đích thực nào (no single authentic self) hầu như tương đồng với triết lý “vô ngã” của đạo Phật. Tôi nhớ tới câu nói của Albert Einstein “The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description.”  Sau khi vượt qua được sàng lọc của những thay đổi trời bể của khoa học Vật lý thế kỷ 20, nó dường như đang được khẳng định bởi khoa học Sự sống của thế kỷ 21.

P.S: Việc Harari không đề cập tới đạo Phật là một điều khiến tôi tò mò bởi ngoài việc nó dường như có liên quan và đáng xem xét cho chủ đề quyển sách nói tới thì đây không phải là một đề tài mà nhà sử học gốc Do Thái này không thiết thân. Ngược lại, Harari bắt đầu theo tập dòng thiền Minh Sát (Vipassana) rất nghiêm túc từ những đầu những năm 2000 khi làm nghiên cứu tiến sỹ ở ĐH Oxford. Mỗi ngày ông dành 2h thực tập thiền, và hàng năm ông rút về quy ẩn trong một khóa thiền 30 ngày trong yên lặng, không sách, không mạng xã hội. Chính quyển sách Homo Deus : A Brief History of Tomorrow này, Harari dành tặng cho người thầy của mình, cố thiền sư S.N. Goenka. Tôi chỉ biết hy vọng Harari sẽ đề cập đến những đề tài này trong quyển tới. Biết đâu..


Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

True landscape of architecture


"The true landscape of architecture then, architecture as it must be, is that arrangement of material, windows, seats, roofs,... which, as nearly as possible, helps us arrive at this blissful state. It is generated by the free application of a living adaptive process.

When we think of architecture, we see glossy magazines with shiny pictures: a certain glitzy, but intentionally febrile, sterile style of photograph. Have you ever thought how deeply wrong, how strange this is?

Here is a place my children used to love: a boat dock north of San Francisco, where my family and I sat, and walked, and played for hours. It has an informal character, which is neccessary to the way it works, and the way it allows people to be themselves. What happens here just CANNOT happen so easily within the geometric landscape of our image-full artificial 20th-century architecture ...  ...  No 20th-century architect will proudly say: I did this. Yet, this is where that inner something starts to live and breath.

After all, the true landscape of architecture is the landscape of people nourished, satisfied, living a full life, being happy, a landscape that shows that happiness derived from the surroundings. A true way of photographing architecture will show the drama of human life nourished, because it is steeped in the sun and shade of building form, photographs where the connection is visible, where the dependence of people's smiles, joy, happiness, is visibly connected with the walls, windows and doors, with the arrangement of the town and of the rooms and of the gardens where they are photographed.

As we may see from the examples, this condition of the world is far from the formal, over-geometric, stylized landscape of modernism and postmodernism- far, too, from the stylized landscape of classicism, ancient or modern, with its too-great emphasis on noble proportions and magnificence." Christopher Alexander_The Nature of Order_Vol.3, P.49
In the above picture, the simply-made curving wall, the colored blossoms, the roughness of the path, the tree, surrounded by unplanted earth- nothing too fancy, no flower beds, the telegraph pole, even its clutter helps to maintain the air of freedom. These again are by-products of living process. It is all this which gave the background to these two girls to be so joyful with one another.

This - the unpredictable dynamic temporary sate of life lived - is what we shall expect to see in a true landscape of architecture, and in a true language of architectural photographs.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Hòa ước _ Treaty

Lời nhạc, thơ của Leonard Cohen không dễ dãi. Nó thường không chấp nhận bán mình cho một ý nghĩa hay một sắc thái tình cảm nào trọn vẹn. Cùng một diễn đạt, nó vượt ra ngoài và nhiều trường hơp hiện ra ở hai thái cực nghĩa đối lập nhau. Cái nào đúng? Cái nào sai? Cái nào Leonard viết cho mình? Cái nào cho ta?

Những lúc khác, nó khiến ta xao động bằng cách dùng từ không ngờ và hình ảnh hút hồn. Người yêu L.C sẽ còn vật lộn trong yêu thương với những ngữ-nghĩa của ông lâu dài. Cũng gần như cách ông vật lộn cả đời với đấng siêu nhiên của mình.

Bài này trước hết là nỗi lòng của L.C với Chúa vào lúc ông ở đoạn kết cuộc đời. Nó cũng có thể là nỗi lòng của Chúa với Quỷ vương. Mà ngược lại cũng đúng, có khác biệt nào giữa hai nhân vật này sao? Ở vài câu đoạn nó cũng là tiếng lòng của hai con người đang vướng vào vòng yêu-hận. Yêu và hận khác biệt thế nào?

Treaty - Hòa Ước


I've seen you change the water into wine
I've seen you change it back to water, too
I sit at your table every night
I try but I just don't get high with you



Ta từng thấy ông hóa nước thành rượu 
Ta cũng thấy ông hóa nó lại nước không
Bên bàn ông ta hàng đêm ngồi rũ
Ta cố nhưng không thể thăng hoa cùng ông

I wish there was a treaty we could sign
I do not care who takes this bloody hill
I'm angry and I'm tired all the time
I wish there was a treaty

I wish there was a treaty
Between your love and mine


Phải chi ký được một hòa ước giữa đôi ta
Ta có sá chi ai quản ngọn đồi máu ngã
Trong triền miên ta giận hờn và mệt lả
Phải chi có được một hòa ước
Phải chi có được một hòa ước
Giữa tình yêu của ông và của ta

Ah, they're dancing in the street — it's Jubilee
We sold ourselves for love but now we're free
I'm so sorry for that ghost I made you be
Only one of us was real and that was me


Ôi phố phường rộn múa ca kìa năm hội toàn xá
Đôi ta bán mình vì yêu nhưng giờ rông rỗi lạ
Ta rất tiếc đã khiến ông thành quỷ ngạ
Chỉ một trong hai ta có thật_ và đó là ta

I haven't said a word since you been gone
That any liar couldn't say as well
I just can't believe the static coming on
You were my ground, my safe and sound
You were my aerial


Từ lúc ông đi ta chưa nói lời nào
Mà một kẻ điêu ngoa không nói nổi
Ta có ngờ đâu điện tích dâng trào
Ông là nơi nối đất_ là vững chãi, thảnh thơi
Ông là dây nối trời

Ah, the fields are crying out — it's Jubilee
We sold ourselves for love but now we're free
I'm so sorry for that ghost I made you be
Only one of us was real and that was me


Ôi khắp trời rộn tiếng kêu kìa năm hội toàn xá
Đôi ta bán mình vì yêu nhưng giờ rông rỗi lạ
Ta rất tiếc đã khiến ông thành quỷ ngạ
Chỉ một trong hai ta có thật_ và đó là ta

I heard the snake was baffled by his sin
He shed his scales to find the snake within
But born again is born without a skin
The poison enters into everything

Ta nghe con rắn nghẹn vì tội nó gây ra
Nó trút vảy ra nhưng bên trong cũng chỉ rắn thôi mà
Nhưng sinh lần nữa là sinh mà đâu có da
Chất độc đó thấm vào trong tất cả

And I wish there was a treaty we could sign
I do not care who takes this bloody hill
I'm angry and I'm tired all the time
I wish there was a treaty, I wish there was a treaty
Between your love and mine

Phải chi ký được một hòa ước giữa đôi ta
Ta có sá chi ai quản ngọn đồi máu ngã
Trong triền miên ta giận hờn và mệt lả
Phải chi có được một hòa ước
Phải chi có được một hòa ước
Giữa tình yêu của ông và của ta


Leonard Cohen_ 2016