Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Sun path tool- Đường đi biểu kiến của mặt trời


Ai cũng biết, mặt trời mọc lên từ đằng Đông và lặn ở đằng Tây. Tuy nhiên đường đi của mặt trời không bao giờ cố định theo một cung tròn trên trời mà thay đổi theo ngày trong năm. Thời gian trời sáng cũng luôn thay đổi_ dài nhất vào ngày hạ chí và ngắn nhất vào ngày đông chí.

Hiểu biết về đường đi và nguồn năng lượng ánh sáng từ mặt trời có nhiều ý nghĩa quan trọng.

Trong permaculture (tạm dịch nền văn minh thuận tự nhiên), nó được xếp vào "sector". Hiểu biết về đường đi của mặt trời giúp cho việc thiết kế công trình-cảnh quan từ thấp đến cao phù hợp, nhằm giữ ấm hoặc làm mát như mong muốn và nhằm tối đa hóa khả năng thu hoạch ánh sáng bằng cây cối hoặc bằng panel năng lượng mặt trời.

Trong tư duy thiết kế của Christopher Alexander, nó được xếp vào pattern_ loại pattern hiện tượng. Hãy tưởng tượng một căn phòng có ánh nắng.  Có thể là vệt nắng ấy, trên sàn hay hắt lên tường, rọi trực tiếp hay xuyên qua kẽ lá, luôn từng giây, từng phút, từng ngày biến đổi, không ngừng chạm đến một mảnh bề mặt khác nhau, một cách chầm chậm, âm thầm. Cùng với năm tháng, pattern của bóng nắng ấy là một phần của cá tính căn phòng, hơn nữa, nó gắn bó hữu cơ vào đời sống tâm hồn của người trong phòng.

Do đó hãy cố gắng tìm trong ký ức của mình một căn phòng có ánh sáng đẹp, ai cũng làm được điều này, rồi trong chừng mực có thể, hãy tái tạo pattern ánh sáng đẹp trong căn phòng mà bạn thiết kế.

Almost everyone has some experience of a room filled with light, sun streaming in, perhaps yellow curtains, white wood, patches of sunlight on the floor, which the cat searches for — soft cushions where the light is, a garden full of flowers to look out onto. 

If you search your own experience, you can certainly remember a place like this — so beautiful it takes your breath away to think of it.  _ Timeless way of building

Để biểu đạt đường đi của mặt trời, người ta dùng Sun path diagram (biểu đồ đường mặt trời). Vd như thế này. Ở trang web này có hướng dẫn cách đọc nó.




Nhưng giờ có nhiều tool hấp dẫn hơn.  Vd ở trang SunCalc.net. Nhập ngày và địa điểm là ta có thể biết góc mặt trời bất cứ giờ nào trong ngày.



Cái tool tôi thích nhất là phiên bản 3D ở trang  AndrewMarsh.com. Thay vì phải gõ ngày vào, người ta chỉ cần kéo rê điểm khảo sát màu đỏ theo chiều ngang để đi suốt năm, và theo chiều thẳng đứng để đi suốt ngày. Bằng cách này có thể dễ dàng đi tới được ngày Đông chí và Hạ chí_ hai ngày biên của đường đi mặt trời_ để khảo sát các góc nắng và lập thiết kế tương ứng.

Bóng nắng chiều lúc 14:03 ngày 23/05/2017 tại địa điểm khảo sát.  Cung màu đỏ gần với cung ngày Hạ chí phía mép trên_ ứng với ngày 21/06/2017







Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

Một địa chỉ kiến trúc đáng tham quan ở Đà Nẵng



Quận Hải Châu nằm ở lõi trung tâm Đà Nẵng có nhiều công trình kiến trúc thú vị từ di tích thành cổ cho đến những công trình cao tầng hiện đại nhất. Nếu bạn quan tâm đến thứ kiến trúc hài hòa (*) với con người và môi trường xung quanh sâu sắc thì đừng bỏ qua địa chỉ số 46, 48 đường Nguyễn Chí Thanh.

Trước nhà 46 có một cái cổng vảo đơn giản. Hai cột đá ở hai bên. Một bộ cổng sắt không có gì đặc biệt ở giữa. Phía trên là 1 vòm cong khung sắt vắt giữa hai cột đá, dây leo quấn đầy. Một lối bố trí đơn giản, phổ biến nhưng nó gây một cảm giác nhẹ nhàng dễ chịu. Cảm xúc đặc biệt đến từ độ sống động của hai cột đá hai bên. Chúng to, dầy, xây lên từ việc sắp những viên đá thô, tô trét vữa sơ sài, kết thúc bằng một viền mép trên đỉnh cột.

Cột đá cổng nhà 46

Chỉ có vậy. Nó không có gì nhiều để mà gọi là thiết kế và bản thân nó đứng một mình chẳng đáng để đến thăm. Thế nhưng điều rất thú ví là ngay sát bên cạnh nó, ở căn nhà 48 cũng có một cái cổng tương tự.

Hai cột đá ở nhà 48 có nhiều điểm giống như nhà 46. Cũng chính xác từ kích cỡ thân cột cho đến viền mép đỉnh đó, cũng xây từ những viên đá kích cỡ tương đương xếp nên. Thậm chí nó cũng là cổng sắt, vòm dây leo xanh phía trên. Nhưng mặc dù trông ổn hơn phần lớn những cái khác, nó lại lu mờ, nhạt nhoà hơn rất nhiều so với cái bên nhà 46, ko phải về màu sắc mà về độ sống động, có "hồn", "cá tính". Chúng hẳn hoàn toàn gần như nhau nếu nằm trên bản vẽ. Thế thì tại sao, cái gì làm chúng khác nhau đến thế?
Cột đá cổng nhà 48

Nhìn qua ảnh ở đây, có lẽ bạn đã có câu trả lời. Nhưng cái điểm khác biệt rút ra từ ảnh chỉ là tiểu tiết, ý phụ, một bài học rút tỉa bên lề. Địa chỉ này vẫn đáng phải đến thăm vì hai lý do chính rất có ý nghĩa mà nếu chỉ nhìn trên mạng sẽ không thay thế được.

Thứ nhất là để đứng gần chúng, đi qua đi lại giữa hai cổng nhà này và tự trải nghiệm cảm giác nó mang lại_ nó thật hay không, nó mạnh yếu thế nào. Chúng ở ngay cạnh nhau, khung cảnh đường phố như nhau, ánh sáng như nhau_ sự quan sát ko bị chi phối vì lý do gián đoạn thời gian hay không gian hay tâm trạng biến đổi của người quan sát. Không dễ có được một đối tượng nghiên cứu vừa ở mức hình học cơ bản, vừa có các điều kiện so sánh lý tưởng như vậy, ngay trong môi trường thực.

Thứ hai là để thoải mái soi từng chi tiết, từng yếu tố khả dĩ tạo ra khác biệt và thử đặt cho mình câu hỏi, nếu là người thiết kế thì có cách chi mà từ bản vẽ và bảng mô tả vật liệu, ta tạo ra được cột ở cổng nhà 46 chứ không phải 48 hay không. Cái cảm giác lúc vẽ bức tường trên giấy có không, nếu có thì nó có giống loại cảm giác khi đứng đó không?  Loại cảm xúc của một bản vẽ biểu cảm có giúp ích gì cho việc tạo ra loại cảm xúc mà vật thể xây dựng sau cùng mang lại không? Làm sao rút ra được bài học này và áp dụng cho những thứ khác chứ không chỉ là một chi tiết đơn giản và tầm thường như cây cột đá này?

Đó là một vấn đề kiến trúc thực sự thâm trầm dù rất nhiều KTS thời hiện đại ko thấy đó là vấn đề của ngành mình hoặc đáng ưu tiên cho sự nghiệp của mình. Nhưng không phải chính nó mới là cái đáng hướng tới hơn thảy đối với chúng ta, những người sống giữa và trong những công trình xây dựng, hay sao?.

---------
(*) hài hòa ở đây không đơn giản nghĩa là các thứ đồ đạc tiệp với nhau, cùng kiểu, trông toát ra chuẩn một phong cách nhất quán như vẫn thường thấy ở các ảnh tạp chí thiết kế. Nó muốn nói đến một cái gì đó như sống động mà chạm đến ta dù chỉ khẽ khàng, nhưng sâu hơn và khiến ta cảm thấy thoải mái với nó, bén rễ quyến luyến cùng năm tháng với nó. Cái cảm xúc Chris đi tìm là cái cảm xúc về nó, mà ông gọi là sự sống hay tính toàn thể

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Bốn bước để có một căn phòng tốt

Mỗi căn phòng đều trải qua 4 giai đoạn khai mở. Buớc đầu tiên liên quan đến vị trí của nó; bước thứ hai những thứ bên trong nó, những trường trung tâm chính; bước thứ ba liên quan đến cấu trúc thứ cấp (những trường trung tâm nhỏ hơn); bước thứ tư đến tính tĩnh tại của nó. Trong một căn phòng tạo ra từ sự khai mở thật sự, bốn bước này mang đến sự sống cho căn phòng.


1. Vị trí căn phòng: trong giai đoạn đầu của thiết kế, căn phòng được hình thành đầu tiên là từ vị trí: thường là tên, kích cỡ, và vị trí ước chừng. Có người cho rằng cứ đặt căn phòng đâu đó cũng được, rồi sau đó sẽ dùng vật liệu, đồ đạc, thảm rèm,v.v.. để thổi hồn vào cho nó sinh động. Một lối tiếp cận sai lầm. Những trường trung tâm mang lại sự sống cho căn phòng là những thứ nằm ngoài cái phòng. Trên thảy tất cả, căn phòng được phát cho sự sống là tự vị trí của nó ở đâu trong dòng di chuyển của con người, từ ánh sáng tự nhiên trong phòng, từ mối tương quan của nó với cái thế giới bên ngoài cửa sổ_ đó là ba thứ chính yếu nhất. Những thứ này chỉ có thể giải quyết ngay từ khâu sắp xếp đầu tiên chứ ko phải sau này.

Nếu áp dụng quy trình cơ bản, mỗi phòng sẽ được chọn/sắp xếp để chính nó trở thành một trường trung tâm_ điều đó đòi hỏi nó phải chiếm một vị trí nhất định trong dòng di chuyển và có một chất lượng ánh sáng tự nhiên nhất định. Và khi thực hiện quy trình này cho toàn bộ tất cả các căn phòng, nó chi phối mạnh mẽ đến đường biên của khối nhà. Những mối tương quan giữa căn phòng với thế giới bên ngoài bốn bức tường này có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự thành công hay thất bại của căn phòng.


2. Những trường trung tâm của căn phòng: giờ đến bước bố trí và tạo ra những trường trung tâm trong phòng. Đây là bước tinh tế nhất và cũng cực khó, bởi những trường trung tâm định tính căn phòng, mà mình phải tạo ra, thường là vô hình. Loại không gian “căn phòng” có đặc điểm là các trường trung tâm của nó hầu như luôn là những mẩu không gian (rỗng) hơn là những cấu trúc vật thể (đặc). Ở mỗi căn phòng, mình phải tìm ra những vùng thiết yếu, rồi cùng với sự kết hợp giữa dòng di chuyển và ánh sáng, biến vùng đó trở nên một trường trung tâm có sức sống.
Thường trong một căn phòng, những trường trung tâm được xác định bởi hai yếu tố: (1) nó là một vùng đọng bên dòng chảy di chuyển và (2) nó gần ánh sáng. Căn phóng có trường trung tâm tốt khi mà tạo được một chỗ có đồng thời cả hai đặc điểm đó, rồi lại còn được làm mạnh mẽ giàu sức sống hơn bằng quy trình cơ bản để phát triển khai mở với những thành tố bục cửa sổ, trần nhà, đồ gỗ, điểm nhấn, v.v...


3. Cấu trúc thứ cấp: những cấu trúc thứ cấp_ những thứ được xây, những cấu trúc vật chất, hình học, cần phải ăn rơ với nhau, và chúng quyết định sự liền mạch và cảm xúc của căn phòng. Điều này nghe có vẻ hiển nhiên và từng là một phần cốt lõi của bất cứ nền kiến trúc truyền thống nào, vậy mà thật đáng ngạc nhiên cách mà nó hầu như biến mất và quên lãng trong các công trình kiến trúc thế kỷ 20.
Một lần nữa, ở đây quy trinh cơ bản sẽ giúp ích rất nhiều. Bằng cách lặp lại quy trình cơ bản để khai mở từng bước, mỗi bước làm một thứ hướng đến gần hơn cái hình thù và ý tưởng căn phòng đang dần có hình hài trong đầu bạn. Lắng nghe nó, quan tâm đến tính toàn thể nhưng đừng bận tâm nhiều đến mặt bằng / bản vẽ tổng thể.
Chúng ta hãy đi vào cụ thể. Hãy giả sử bạn đã đến chỗ đất định xây, xác định vị trí tốt nhất để đặt một phòng quan trọng. Bạn đã đứng ở chỗ đó, hài lòng là “từ bên trong nhìn ra”, nó đúng là một chỗ đẹp, có tương quan tốt với không gian và địa hình bên ngoài. Dùng quy trình cơ bản, bạn đi bước tiếp theo bằng cách tôn tạo trường trung tâm mà ta đã định trong đầu này. Dĩ nhiên bạn muốn ánh sáng trong phòng đẹp. Do đó ta phải chừa một vùng quang đãng phía ngoài rìa phòng để cho ánh sáng đi vào được đẹp_ ta phải làm cửa sổ đẹp. Tự nhiên, căn phòng giờ đây đã có được những nét rõ rệt hơn hẳn trong thiết kế đang thành hình. Nó “nổi bật”, nó có phần tường bao sáng tỏ và nó bắt đầu góp phần định hình phần căn nhà xung quanh phòng này.


4. Tĩnh tại: yên tĩnh, lắng đọng, an bình, vui tươi, giản dị. Sau những bước khai mở, phân hóa, thêm thắt là bước dẹp bỏ những gì rườm rà và chỉ giữ lại những thứ thật sự mang đến cho ta sự thoải mái và tĩnh lặng.

Về nguyên tắc, căn phòng là sự hiển lộ và hóa thiêng của cuộc đời. Nó là cuộc đời của ta hiển bày ra. Bản thân căn phòng, giống như cái nôi hoặc mớ tích góp của một đời sống, về bản chất chính là nơi của thiên vạn hỷ lạc sầu bi, là chỗ chứa đựng cuộc đời bạn và phần đời của con bạn; là phần xác thịt, mang tính trật tự vật lý, của cái mà tâm hồn bạn từng là và đang là.

Có lẽ đó mới là mục đích thật sự của căn phòng. Nó cần phải thoải mái, nhưng là thoải mái thật sự, thoải mái ở tận tầng linh hồn bên trong. Một căn phòng tốt phải tuyệt đối dễ chịu, cả trong tâm hồn lẫn ở sự êm ái của nệm êm, ánh sáng dịu, tiếng chim ca, nước chảy, một nhành dây leo xanh uốn quanh nở trộm một hai bông hoa, vẳng tiếng trẻ thơ nô đùa và người thân yêu cười nói…. Quá nhiều người đã đánh mất đi sự thính nhạy đối với cái thoải mái dễ chịu bình dị này.

Làm sao để tạo được sự tĩnh tại? Nói chung nó đơn giản thôi nhưng đòi hỏi phải tập trung và lắng nghe chính mình. Hãy đứng ở trong căn phòng đó. Tự hỏi mình là ta nên đặt ở kia cái gì_ một loại đá nào đó ở mép trên lò sưởi, một màu tường nào đó, khoét cửa sổ hay cửa ra vào theo hình dáng nào đó , v.v… Với mỗi thứ, ta hỏi, nó có mang lại sự tĩnh tại trong ta nhiều hơn không? Nếu có, giữ thiết kế hay món đồ đó. Nếu không, loại nó đi. Cứ như vậy đối với mọi thứ xung quanh bạn.

Tóm tắt từ  Christopher Alexander, The Nature of Order, Book 3, Chapter 13



"In principle, a room is the sanctification and illumination of a life. It is your life made manifest. The room itself, like a cradle or a gathering together of a life, is, in its essence, the place of thousand joys and sorrows, the receptacle of your life and your children's lives, the embodiment, in physical order, of what yout spirit has been and has become.

That is, perhaps, a true purpose of a room. It is comfort, but true comfort, an inner spiritual comfort. When i describe it as spiritual it sounds ascetic, and too much connected with self-awareness. A good room is utterly comfortable. It is the real comfort, the comfort of the soul: but also the comfort of pillows, soft light, soubds just right for the ear, birds singing.a solitaryvine running up the front door and bearing ine, two, then three blossoms, the comfort of the paint outside on the building, thr feeling of happiness i feel when I come home to the deep reddish rose of my own house, the cages with hamsters stuck all iver the house, and the way my children squeal and play with those cages, the oil paints all over my studio, the voice of my dear wife singing, coming up from the room below. That is real comfort "
_ NOO, p.438, book 3

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Căn nhà gạch men hoa ở thành phố Mexico



Ở trung tâm thủ đô Mexico city, có một ngôi nhà rất đẹp gọi là Ngôi nhà gạch men hoa (Casa de los Azulejos). Được xây từ những năm 1800, tường ngoài căn nhà gần như được phủ hoàn toàn bằng gạch men hoa vẽ tay, với màu xanh lơ chủ đạo. Từ xa, ngôi nhà ánh lên màu xanh lấp lóa.
Khi Chris Alexander đến thành phố, ông quyết định đến thăm căn nhà này. Tại đó ông gặp một bất ngờ lớn. Những viên gạch men ở đây hình vuông to hơn cỡ 20x20cm một chút, chúng đều được vẽ bằng tay và dĩ nhiên là đúc thủ công. Nhưng cách chúng được ốp vào tường thì “thô ẩu” không thể tin được. Chúng được đặt méo mó, đường chỉ không đều, thậm chí mặt gạch còn gồ ghề không phẳng nữa. Theo tiêu chuẩn hiện đại, không ai lại chấp nhận một công trình cẩu thả như thế được.




Thế nhưng Ngôi nhà gạch men hoa được công chúng đánh giá là một trong những căn nhà- palace đẹp nhất của thành phố.

Chúng ta đã quen và thành fan cuồng của sự chuẩn xác trong từng chi tiết của công trình xây dựng. Lót gạch, thời bây giờ, đòi hỏi phải chúng phải thẳng hàng với nhau hoàn hảo, mỗi viên gạch cắt hoàn hảo theo size chuẩn không sai một ly, chúng ốp với nhau hoàn hảo với những đường chỉ mỏng dính thẳng tắp. Thế nhưng, nền gạch hoa của chúng ta trở nên trơ cứng, vô hồn.

Theo Alexander, những quy trình xây dựng của thời đại công nghiệp không chỉ mang tính máy móc, chúng còn tách rời những người xây với cái toàn thể của cái mà họ đang góp phần tạo ra. Mỗi nhóm thợ chuyên biệt đến làm một việc chuyên biệt- một công đoạn rồi đi, phần lớn họ ko thấy được cái toàn thể mà mình làm ra, bị cùm tay không cho ứng biến để qua công việc của họ, lèo lái công trình theo hướng thích ứng với hoàn cảnh hơn, có hồn hơn, và qua đó rút ra được niềm vui từ tay nghề của mình. Alexander cho rằng, nhiều thợ lành nghề đặt niềm tự hào trong tay nghề của mình vào sự hoàn hảo vô nghĩa trong chi tiết là bởi vì sự hiểu biết ý nghĩa thực sự của cái đẹp và cái trật tự toàn thể đã bị mất và không có điều kiện đạt được ở các quy trình máy móc của thế kỷ 20.

Nhưng sự hoàn hảo ở tầm tiểu tiết chỉ là vô nghĩa bởi nó chả liên quan và đóng góp gì đến sự hoàn hảo lớn hơn, ví dụ của cả bức tường. Trái lại, nó làm hỏng quá trình thiết lập trật tự. Quá trình này chỉ có thể đạt được khi mà mối quan tâm một cách sùng kính thái quá đến những chi tiết lặt vặt và máy móc bị dẹp bỏ sang một bên nhường cho cái toàn thể lớn hơn.



Để đạt được tính toàn thể, bạn phải chú tâm đạt đến loại hoàn hảo mà ở đó những thứ không quan trọng thì cứ để sơ sài còn những thứ quan trọng hơn phải được chú tâm nhiều hơn. Kết quả sẽ có vẻ như không đều, không hoàn hảo. Nhưng thực tế, thứ tưởng chừng như là sơ sài thô lậu (Roughness_ 1trong 15 đặc tính của sự sống) bề ngoài kia chính là một thứ hoàn hảo ở tầng trật tự sâu hơn.


Tại sao ở Ngôi nhà gạch men hoa kia, những viên gạch lại thô như vậy, lắp đặt méo mó gồ ghề như vậy? Phải chăng những nghệ nhân người Mexico không biết cách làm chúng chính xác thẳng thớm?  Ông không nghĩ vậy. Ông tin rằng đơn giản là họ hiểu cái gì quan trọng, cái gì không và chỉ chú tâm đến thứ quan trọng_ trong trường hợp này là màu sắc. Vì vậy, khi họ làm bức tường gạch men, họ để tâm đến màu sắc, đến hoa văn, đến cảm giác từng viên gạch mang lại, cái tương quan giữa nó với viên gạch kế bên_ đấy mới là những thứ thật sự quan trọng để tạo nên sự hòa hợp và cảm xúc của cả bức tường.

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2016

Homo Deus : A Brief History of Tomorrow


Vào buổi bình minh của thiên niên kỷ thứ ba, loài người thức dậy, vươn vai nhìn quanh và thấy cuộc sống dễ dàng hơn bao giờ hết. Ba kẻ thù truyền kiếp_ nạn đói, bệnh dịch, chiến tranh_ giờ chỉ còn là những bóng ma nhạt nhòa của ngày hôm qua. Tiến bộ khoa học và công nghệ đã đưa con người lần đầu tiên bỏ qua chúng và vượt lên phía trước với tốc độ ngày càng cao. Cùng lúc đó, chủ nghĩa nhân văn tự do (liberal humanism) sau khi đã đánh bại các hệ tư tưởng hiện đại khác, trở thành ngọn đuốc soi đường duy nhất cho nhân loại tiến lên. Chủ nghĩa nhân văn về cơ bản là hệ tư tưởng đặt con người ở vị trí cao nhất và chỉ có con người với ý chí tự do của mình sẽ có quyền mang đến ý nghĩa cho mọi thứ. Nó thay thế hệ tư tưởng cũ của các độc thần giáo với Chúa ngồi ở cái ngai đó.

Họ sẽ tiến lên đâu trên đôi cánh công nghệ và đôi mắt nhân văn tự do? Yuval Noah Harari chỉ ra ba cái đích lớn con người hiện đại muốn và đang đạt tới: trường sinh bất lão, vui sướng triền miên, “tề thiên đại thánh”. Nhiều người nghĩ đây là mơ tưởng hão huyền và xa vời, nhưng từng phần từng phần những giấc mơ đó đang hiện thực hóa nhanh chóng, chúng ta đang nói xa vời là từng mỗi 10 năm, những gì không thể làm được nghĩa là làm được tầm 20 năm. Hãy cẩn thận với mơ ước của mình, nó có thể biến thành sự thật!

Lịch sử không tiến đều, nó dường như đứng yên rất lâu ở một nhà ga rồi bỗng dưng vụt đến một nhà ga khác. Sau vài trăm năm dưới ánh sáng của chủ nghĩa nhân văn, “con tàu tiến bộ giờ lại một lần nữa rút còi kéo ra khỏi nhà ga_ và đây có lẽ là chuyến tàu cuối cùng rời nhà ga mang tên giống người thông minh (Homo sapiens) . Những ai lỡ mất chuyến tàu này sẽ không có cơ hội lần thứ hai”.

Ai sẽ có cơ hội lên chuyến tàu này? Trước hết, đó là những tín đồ của một tôn giáo xuất hiện gần đây, chủ nghĩa nhân văn kỹ thuật (nhân kỹ? _ techno-humanism), một biến dị của chủ nghĩa nhân văn. Nếu như chặng đường trước đây mục tiêu tiến bộ là để vực những người yếu bệnh, nghèo khó lên mức trung bình, có tác dụng giữ cho xã hội gắn kết, thì con đường phía trước ngày càng chỉ hé ra cho một ít người có điều kiện để nâng cấp từ bình thường lên thành như những vị chúa, những homo deus (thần nhân, tạm dịch ) có năng lực về sức khỏe, tuổi thọ, trí tuệ và cảm xúc vượt ngoài giới hạn con người hữu cơ. Đó có thể bằng biến đổi gien, bằng kết hợp người và các bộ phận sinh học-cơ khí và bằng hàng loạt công nghệ mới của ngành sinh học, nano và máy tính.

Nhưng thậm chí ngay cả những thần nhân đó liệu có bám được lâu trên chuyến tàu này? Một bộ não gắn chip, hay một bộ não biến đổi gien của những thần-nhân kia liệu tranh đua được bao lâu với một bộ não siêu việt nâng cấp không ngừng và ngày càng nhanh của trí thông minh nhân tạo? Sự sống trải qua hơn 4 tỷ năm từ chỉ tiến hóa ở dạng hữu cơ giờ đã có thể nhảy qua hình thái vô cơ, và ở dạng đó nó có khả năng sinh tồn ưu việt hơn hẳn. Dạng sự sống đó đang thai nghén và lớn nhanh dưới sự tiên phong của một nhóm nhỏ người tin một hệ tư tưởng hoàn toàn mới mẻ và theo sau, một cách vô thức và ngây thơ, bởi đám đông hầu hết chúng ta. Hệ tư tưởng đó là chủ nghĩa data (dataism) ở đó data lật đổ con người và chiếm vào vị trí tối thượng họ ngồi mấy trăm năm qua.

Ở chính giờ phút khải hoàn của nó ở đầu thiên niên kỷ thứ ba, chủ nghĩa nhân văn, bằng cách tận tụy đưa con người lên những tầm cao tối thượng, đang đồng thời đào mộ chôn cất loài người. Đa số sẽ nhận ra cái thiên đường mà loài người đang lao tới chính là địa ngục của tuyệt đại đa số giống người thông minh (homo sapiens) hiện nay, những sinh vật rất nhanh chóng trở nên vô dụng, thiểu năng, yếu ớt và thừa thãi. Họ sẽ được đối xử như thế nào, giống loài sẽ tồn tại được bao lâu. Harari nhắc chúng ta nhìn về cách con người đang đối xử với các loài khác, đặc biệt là nhìn vào sự tàn nhẫn cực độ ở ngành chăn nuôi công nghiệp hóa. Phải chăng gần đây người ta quan tâm nhiều hơn đến điểm nhức nhối này bởi vì ngày càng nhiều người lờ mờ hình dung ra những cảnh phim tương tự nhưng với cái twist là con người trong vai sinh vật hạ đẳng hơn?

Ở tuổi 35, nhà sử học người Israel đã gây bất ngờ lớn với thành công vang dội của quyển sách đầu tay Sapiens: A Brief History of Humankind. Rất đáng đọc  ; nếu chỉ được chọn một quyển sách sử để làm tài liệu giảng dạy phổ thông cho toàn thế giới, nó phải nằm trong những quyển đáng cân nhắc nhất. Trong quyển này Harari có nói, rằng lịch sử diễn ra theo những con đường riêng của nó, nhà sử học chỉ có thể nói nó đã diễn ra như thế nào, chứ thật khó nói được tại sao nó diễn ra như vậy. Thường ai chỉ biết một ít về thời đại nào đó thì sẽ rất sẵn sàng lý giải tại sao lúc đó từ lịch sử đi từ A đến B; những người càng biết nhiều hơn về thời đại đó sẽ càng nhận ra con đường từ A đến B không phải đương nhiên thậm chí nhiều khi là con đường đáng lý khó xảy ra hơn. Những người biết tường tận nhất về thời đại đó, không ai khác hơn những người đương thời, thì luôn luôn không biết gì chắc chắn rằng lịch sử sẽ tất yếu rẽ đi hướng nào tiếp. Không có tính tất định (deterministic)_Đó là quy luật sắt của lịch sử.

Do đó tôi bắt đầu đọc quyển 2 này với tâm thế nghi ngại: liệu không phải mâu thuẫn sao khi giờ chính Harari lại đi nói về tương lai, nhất là về tại sao lịch sử sẽ đi từ cái hiện thực 2016 đến cái tương lai đó. Khi gấp trang cuối lại tôi cảm thấy mình bị thuyết phục.

Có hai lý do biện hộ cho hành động của Harari_ một về nội dung, một về ý định. Thứ nhất, là bởi vì lần đầu tiên trong lịch sử loài người toàn thế giới kết nối với nhau thành một cái làng toàn cầu. Quan trọng hơn, cái khối thống nhất này chỉ có duy nhất một bó đuốc dẫn đường là chủ nghĩa nhân văn, mà dựa vào đó các nền tảng giá trị, đạo đức, thiết chế xã hội đương đại được thiết lập. Những tàn dư của các hệ tư tưởng cũ vẫn còn đấy, nhưng từ lâu rồi chúng không còn khả năng đẩy bánh xe lịch sử. Trong vài trăm năm qua, những bộ óc siêu việt nhất của loài người không nghĩ ra được gì hay hơn chủ nghĩa nhân văn. Nó đồng hành với tiến bộ khoa học hiện đại và mang lại ý nghĩa cho mọi thứ trong cuộc sống con người hiện đại. Cho nên, giờ đã có thể xét tương lai một cách hợp lý và tương đối chắc chắn khi ta giả lập bắn đi những mũi tên lịch sử dưới bộ dẫn đường duy nhất hiện có.

Thứ hai, thật ra Harari không hẳn dự đoán về tương lai. Cái hay của Homo deus ở chỗ đây là một quyển sách viêt về tương lai nhưng lại không thực sự có ý định tiên tri nó. Hơn nhiều “nhà tiên tri” ngoài kia, ông rất tỉnh táo nhận ra hạn chế của mình và loài người. Vd như làm sao mà con người homo sapiens có thể hiểu được những con đường mà thần-nhân homo deus sắp xuất hiện sẽ hoạch định? Với một bộ não biến đổi, họ có phổ ý chí, cảm xúc và nhiều trạng thái ý thức mới mẻ ở cái tầm mà chúng ta bất khả tư nghị; cũng giống như làm sao những con dù khôn nhất của loài sói có thể hiểu được ý tưởng binh pháp của Napoleon?. Thay vì đóng vai nhà tiên tri hão, Harari chỉ bày ra ván cờ của 2016, xét tất cả các nước đi có thể có, chỉ ra loài người đều sẽ sớm bị chiếu bí, sẽ game-over như thế nào; rồi mời gọi tất cả chúng ta dừng lại một phút để nghĩ về nó, ngay bây giờ trước khi quá muộn. Ông hy vọng vào hiệu ứng của hệ hỗn loạn bậc 2. (Xem thêm Sapiens, tr.268, 269 về hệ hỗn loạn và nhiệm vụ của sử gia)

Yuval Noah Harari có biệt tài là ông có thể sắp xếp và trình bày mọi thứ một cách thật sáng tỏ mạch lạc, có hệ thống. Những lập luận của ông đều dựa trên kết quả khoa học, với cách phân tích logic, rất tỉnh, không gay gắt nhưng cũng không khoan nhượng, đặc biệt là không thiên vị. Ở quyển 1_ Sapiens: A Brief History of Humankind, ông khiến ta sửng sốt và thú vị bao nhiêu khi hé lộ những mũi tên có khi thâm trầm, tàng ẩn nhưng lại mang tính quyết định nhất của 250,000 năm lịch sử loài người. Ở quyển 2 này, không có nhiều sửng sốt ở đây bởi chúng ta ít nhiều đều lờ mờ nghĩ tới viễn cảnh đen tối phía trước và đều xua nó qua một bên để sống qua ngày hôm nay. Quyển 2 thay cảm giác thú vị bằng lo âu, nhưng bù lại nó đặt lên bàn nhiều vấn đề cấp bách đáng suy nghĩ hơn.

Tôi những mong quyển sách phân tích nhiều hơn đến hai điểm: đạo Phật và CNTB. Nếu chủ nghĩa nhân văn là bộ điều khiển dẫn đường, thì CNTB với cơn nghiện mang tên Tăng trưởng của nó là chính là động cơ đẩy gia tốc của con tàu Hiện Đại. Nếu không làm gì bộ điều khiển được thì có nên làm gì đó với động cơ không? Biết đâu, loài người sẽ học được cách cai nghiện Tăng trưởng, như họ gần đây học được cách kiêng ăn để giữ sức khỏe chính mình. Những hệ tư tưởng phương Đông với đề cao tương quan cân bằng (equilibrium) thay vì cực đoan một chiều, vd như đạo Lão hoặc kinh Dịch, liệu có giá trị gì trong hoàn cảnh mới không? Đặc biệt là đạo Phật. Trong khi chủ nghĩa nhân văn bắt đầu bị lung lay tận nền tảng bởi những phát hiện khoa học mới nhất, có nguy cơ chấm dứt vai trò lịch sử như một Kito giáo của thế kỷ 21, thì đạo Phật lại tiếp tục không mâu thuẫn, thậm chí còn tỏ ra liên quan, với những phát hiện này. Đáng kể nhất là ở kết luận khoa học rằng không có bằng cứ gì ủng hộ thuyết cho rằng tồn tại một cái tôi đích thực nào (no single authentic self) hầu như tương đồng với triết lý “vô ngã” của đạo Phật. Tôi nhớ tới câu nói của Albert Einstein “The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description.”  Sau khi vượt qua được sàng lọc của những thay đổi trời bể của khoa học Vật lý thế kỷ 20, nó dường như đang được khẳng định bởi khoa học Sự sống của thế kỷ 21.

P.S: Việc Harari không đề cập tới đạo Phật là một điều khiến tôi tò mò bởi ngoài việc nó dường như có liên quan và đáng xem xét cho chủ đề quyển sách nói tới thì đây không phải là một đề tài mà nhà sử học gốc Do Thái này không thiết thân. Ngược lại, Harari bắt đầu theo tập dòng thiền Minh Sát (Vipassana) rất nghiêm túc từ những đầu những năm 2000 khi làm nghiên cứu tiến sỹ ở ĐH Oxford. Mỗi ngày ông dành 2h thực tập thiền, và hàng năm ông rút về quy ẩn trong một khóa thiền 30 ngày trong yên lặng, không sách, không mạng xã hội. Chính quyển sách Homo Deus : A Brief History of Tomorrow này, Harari dành tặng cho người thầy của mình, cố thiền sư S.N. Goenka. Tôi chỉ biết hy vọng Harari sẽ đề cập đến những đề tài này trong quyển tới. Biết đâu..


Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

True landscape of architecture


"The true landscape of architecture then, architecture as it must be, is that arrangement of material, windows, seats, roofs,... which, as nearly as possible, helps us arrive at this blissful state. It is generated by the free application of a living adaptive process.

When we think of architecture, we see glossy magazines with shiny pictures: a certain glitzy, but intentionally febrile, sterile style of photograph. Have you ever thought how deeply wrong, how strange this is?

Here is a place my children used to love: a boat dock north of San Francisco, where my family and I sat, and walked, and played for hours. It has an informal character, which is neccessary to the way it works, and the way it allows people to be themselves. What happens here just CANNOT happen so easily within the geometric landscape of our image-full artificial 20th-century architecture ...  ...  No 20th-century architect will proudly say: I did this. Yet, this is where that inner something starts to live and breath.

After all, the true landscape of architecture is the landscape of people nourished, satisfied, living a full life, being happy, a landscape that shows that happiness derived from the surroundings. A true way of photographing architecture will show the drama of human life nourished, because it is steeped in the sun and shade of building form, photographs where the connection is visible, where the dependence of people's smiles, joy, happiness, is visibly connected with the walls, windows and doors, with the arrangement of the town and of the rooms and of the gardens where they are photographed.

As we may see from the examples, this condition of the world is far from the formal, over-geometric, stylized landscape of modernism and postmodernism- far, too, from the stylized landscape of classicism, ancient or modern, with its too-great emphasis on noble proportions and magnificence." Christopher Alexander_The Nature of Order_Vol.3, P.49
In the above picture, the simply-made curving wall, the colored blossoms, the roughness of the path, the tree, surrounded by unplanted earth- nothing too fancy, no flower beds, the telegraph pole, even its clutter helps to maintain the air of freedom. These again are by-products of living process. It is all this which gave the background to these two girls to be so joyful with one another.

This - the unpredictable dynamic temporary sate of life lived - is what we shall expect to see in a true landscape of architecture, and in a true language of architectural photographs.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Hòa ước _ Treaty

Lời nhạc, thơ của Leonard Cohen không dễ dãi. Nó thường không chấp nhận bán mình cho một ý nghĩa hay một sắc thái tình cảm nào trọn vẹn. Cùng một diễn đạt, nó vượt ra ngoài và nhiều trường hơp hiện ra ở hai thái cực nghĩa đối lập nhau. Cái nào đúng? Cái nào sai? Cái nào Leonard viết cho mình? Cái nào cho ta?

Những lúc khác, nó khiến ta xao động bằng cách dùng từ không ngờ và hình ảnh hút hồn. Người yêu L.C sẽ còn vật lộn trong yêu thương với những ngữ-nghĩa của ông lâu dài. Cũng gần như cách ông vật lộn cả đời với đấng siêu nhiên của mình.

Bài này trước hết là nỗi lòng của L.C với Chúa vào lúc ông ở đoạn kết cuộc đời. Nó cũng có thể là nỗi lòng của Chúa với Quỷ vương. Mà ngược lại cũng đúng, có khác biệt nào giữa hai nhân vật này sao? Ở vài câu đoạn nó cũng là tiếng lòng của hai con người đang vướng vào vòng yêu-hận. Yêu và hận khác biệt thế nào?

Treaty - Hòa Ước


I've seen you change the water into wine
I've seen you change it back to water, too
I sit at your table every night
I try but I just don't get high with you



Ta từng thấy ông hóa nước thành rượu 
Ta cũng thấy ông hóa nó lại nước không
Bên bàn ông ta hàng đêm ngồi rũ
Ta cố nhưng không thể thăng hoa cùng ông

I wish there was a treaty we could sign
I do not care who takes this bloody hill
I'm angry and I'm tired all the time
I wish there was a treaty

I wish there was a treaty
Between your love and mine


Phải chi ký được một hòa ước giữa đôi ta
Ta có sá chi ai quản ngọn đồi máu ngã
Trong triền miên ta giận hờn và mệt lả
Phải chi có được một hòa ước
Phải chi có được một hòa ước
Giữa tình yêu của ông và của ta

Ah, they're dancing in the street — it's Jubilee
We sold ourselves for love but now we're free
I'm so sorry for that ghost I made you be
Only one of us was real and that was me


Ôi phố phường rộn múa ca kìa năm hội toàn xá
Đôi ta bán mình vì yêu nhưng giờ rông rỗi lạ
Ta rất tiếc đã khiến ông thành quỷ ngạ
Chỉ một trong hai ta có thật_ và đó là ta

I haven't said a word since you been gone
That any liar couldn't say as well
I just can't believe the static coming on
You were my ground, my safe and sound
You were my aerial


Từ lúc ông đi ta chưa nói lời nào
Mà một kẻ điêu ngoa không nói nổi
Ta có ngờ đâu điện tích dâng trào
Ông là nơi nối đất_ là vững chãi, thảnh thơi
Ông là dây nối trời

Ah, the fields are crying out — it's Jubilee
We sold ourselves for love but now we're free
I'm so sorry for that ghost I made you be
Only one of us was real and that was me


Ôi khắp trời rộn tiếng kêu kìa năm hội toàn xá
Đôi ta bán mình vì yêu nhưng giờ rông rỗi lạ
Ta rất tiếc đã khiến ông thành quỷ ngạ
Chỉ một trong hai ta có thật_ và đó là ta

I heard the snake was baffled by his sin
He shed his scales to find the snake within
But born again is born without a skin
The poison enters into everything

Ta nghe con rắn nghẹn vì tội nó gây ra
Nó trút vảy ra nhưng bên trong cũng chỉ rắn thôi mà
Nhưng sinh lần nữa là sinh mà đâu có da
Chất độc đó thấm vào trong tất cả

And I wish there was a treaty we could sign
I do not care who takes this bloody hill
I'm angry and I'm tired all the time
I wish there was a treaty, I wish there was a treaty
Between your love and mine

Phải chi ký được một hòa ước giữa đôi ta
Ta có sá chi ai quản ngọn đồi máu ngã
Trong triền miên ta giận hờn và mệt lả
Phải chi có được một hòa ước
Phải chi có được một hòa ước
Giữa tình yêu của ông và của ta


Leonard Cohen_ 2016